Báo cáo từ Viện Năng lượng cho hay, đến hết năm 2020, hệ thống điện Việt Nam có tổng công suất lắp đặt nguồn điện khoảng 69 GW (bao gồm điện mặt trời áp mái); trong đó, nhiệt điện than có khoảng 21 GW; thủy điện khoảng 21 GW; tuabin khí và nhiệt điện chạy dầu có khoảng 9 GW, điện mặt trời (gồm cả điện mặt trời áp mái) khoảng 17 GW; điện gió, điện sinh khối và nhập khẩu có công suất dưới 1 GW mỗi loại.

Giai đoạn 2011-2020, tổng công suất đặt nguồn điện tăng với tốc độ trung bình 12,9%/năm. Trong các nguồn điện truyền thống, nhiệt điện than tăng trưởng nhanh nhất với tốc độ trung bình 18%/năm, tiếp đến là công suất nguồn thủy điện tăng với tốc độ 9,2%/năm.

Bên cạnh các nguồn truyền thống, nguồn điện mặt trời và điện mặt trời áp mái cũng có sự tăng trưởng đột ngột trong các năm 2019-2020. Từ mức không đáng kể đầu năm 2018, hiện tại, cơ cấu của nguồn năng lượng tái tạo biến đổi (gió và mặt trời) đã chiếm gần 26% tổng công suất đặt của nguồn điện. Nhiệt điện khí và dầu hầu như không phát triển mới trong suốt giai đoạn 2011 – 2020.

{keywords}
Phát triển cụm ngành công nghiệp năng lượng ở đồng bằng sông Cửu Long. Ảnh minh họa

Đánh giá của Viện Năng lượng cho hay, do tác động của cơ chế khuyến khích phát triển điện mặt trời tại Quyết định số 11/2017/QĐ-TTg ngày 11/4/2017 và cơ chế khuyến khích phát triển điện gió tại Quyết định số 39/2018/QĐ-TTg ngày 10/9/2018, các dự án điện gió và mặt trời đã phát triển rất mạnh trong thời gian vừa qua. Tính đến hết tháng 12/2020, tổng công suất điện mặt trời (bao gồm cả điện mặt trời mái nhà) là 16.500 MW (chiếm 24,1% tổng công suất), tổng công suất điện gió là 567 MW (chiếm khoảng 0,86% tổng công suất). Các nguồn điện này phân bổ không đều, tập trung chủ yếu ở các tỉnh có nhiều tiềm năng tại miền Trung và miền Nam như Bình Định, Khánh Hòa, Phú Yên, Bình Thuận, Ninh Thuận, An Giang, Long An...

Hiện nay, tổng công suất các nguồn năng lượng tái tạo đã được phê duyệt bổ sung quy hoạch đến năm 2025 khoảng 25.500 MW (chưa bao gồm các dự án điện mặt trời mái nhà), gồm 13.900 MW điện mặt trời trang trại và 11.500 MW điện gió. Như vậy còn lại khoảng 5.000 MW điện mặt trời và 6.144 MW điện gió đã phê duyệt quy hoạch nhưng không kịp đưa vào vận hành trong năm 2021. Tuy nhiên, hiện nay chưa có thông tin cụ thể về các cơ chế khuyến khích phát triển năng lượng tái tạo cho giai đoạn sau tháng 10/2021 nên tiến độ các nguồn này còn nhiều rủi ro.

Các loại hình năng lượng tái tạo nói chung và điện mặt trời nói riêng có thời gian đầu tư xây dựng ngắn hơn nhiều so với việc đầu tư xây dựng lưới điện truyền tải. Hơn nữa, các nguồn điện này có nhiều đặc tính vận hành khác biệt với các nguồn điện truyền thống như: tính bất định cao, chế độ vận hành phụ thuộc vào thời tiết, không đóng góp cho quán tính hệ thống và điều tần sơ cấp...

Do vậy, sự gia tăng đột biến của loại hình nguồn điện này dẫn đến nhiều vấn đề trong vận hành hệ thống điện như: đầy tải, quá tải cục bộ, sụt giảm quán tính hệ thống, tăng số lần khởi động và yêu cầu điều chỉnh công suất các nhà máy nhiệt điện... Một trong những hệ quả trực tiếp của các vấn đề này là việc giảm phát các nguồn năng lượng tái tạo. Năm 2020, sản lượng không khai thác được của điện mặt trời vào khoảng 364 triệu kWh.

Theo các báo cáo của EVN về tình hình phát triển điện gió và tình hình vận hành hệ thống điện năm 2021 thì tới cuối năm 2021 tổng công suất điện gió có thể đưa vào vận hành thêm khoảng 5.400 MW, điện mặt trời tập trung vận hành thêm khoảng 300 MW, nhiệt điện than khoảng 3.000 MW (Hải Dương 2 là 600 MW, Sông Hậu 1 là 1.200 MW, Duyên Hải 2 là 1.200 MW). Tổng công suất đặt của hệ thống điện cuối năm 2021 vào khoảng gần 80 GW. Như vậy, điện gió và điện mặt trời (bao gồm điện mặt trời áp mái) sẽ chiếm lần lượt khoảng 7% và 22% tổng công suất đặt của hệ thống.

Sự gia tăng của điện mặt trời và điện gió sẽ gia tăng hiện tượng nghẽn mạch, tiết giảm năng lượng tái tạo trên hệ thống điện. Dự kiến giai đoạn 2021-2025, hệ thống điện Việt Nam sẽ tiếp tục tiết giảm.

Báo cáo trên chỉ ra, việc cắt giảm công suất là không thể tránh khỏi với các hệ thống điện có tỷ lệ tích hợp năng lượng tái tạo cao. Tuy nhiên, tỷ lệ cắt giảm nguồn năng lượng tái tạo của các nước có sự khác biệt nhất định, do khác nhau về tỷ trọng nguồn năng lượng tái tạo trong cơ cấu nguồn, phân bổ nguồn tải, thị trường điện, độ hoàn thiện của hạ tầng lưới điện truyền tải, phân phối...

Theo báo cáo tính toán của cơ quan Điều độ Hệ thống điện Quốc gia (A0), tổng sản lượng điện cắt giảm 06 tháng cuối năm 2021 có thể lên tới 1,7 tỷ kWh. Trong giai đoạn tháng 7-9/2021, mức cắt giảm năng lượng tái tạo có thể lên tới 2.800/6.500 MW vào thời điểm thấp điểm trưa của ngày thường/cuối tuần, sản lượng cắt dự kiến trong mỗi tháng là 210 triệu kWh.

Vào giai đoạn tháng 10-12/2021, đây là thời kỳ mùa lũ chính vụ miền Trung và Nam, khai thác cao thủy điện nên mức cắt giảm năng lượng tái tạo do quá giới hạn truyền tải 500 kV cùng với thừa nguồn trên hệ thống trong ngày thường/chủ nhật có thể lên tới 7.500 MW/11.500 MW. Sản lượng năng lượng tái tạo cắt dự kiến trong mỗi tháng là 378 triệu kWh.

Ngoài ra, do tỷ trọng các nguồn năng lượng tái tạo trong hệ thống ở mức cao nên ngoài các vấn đề về quá tải và thừa nguồn sẽ phát sinh một số vấn đề trong công tác vận hành hệ thống như: Phải ngừng, khởi động, thay đổi công suất phát tổ máy nhiệt điện nhiều lần, gây ảnh hưởng đến tuổi thọ, độ an toàn của các tổ máy và phát sinh thêm nhiều chi phí vận hành; vấn đề chất lượng điện năng trên hệ thống điện, nhất là vấn đề về sóng hài và độ nhấp nháy điện áp. Cuối cùng là nhu cầu dự phòng công suất tăng cao để đáp ứng với sự thay đổi công suất của các nguồn năng lượng tái tạo giữa các thời điểm…

Minh Đức