Bộ GD-ĐT vừa ban hành thông tư hướng dẫn về vị trí việc làm, cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp, định mức số lượng người làm việc trong các cơ sở giáo dục phổ thông và các trường chuyên biệt công lập.

Theo Bộ GD-ĐT, việc xây dựng thông tư hướng dẫn về vị trí việc làm nhằm triển khai thực hiện Nghị định số 106 của Chính phủ cũng như làm căn cứ để các địa phương triển khai xây dựng đề án vị trí việc làm. 

Định mức giáo viên các cấp học được xác định theo nguyên tắc bảo đảm đủ số lượng người làm việc theo định mức để thực hiện công tác giảng dạy tất cả các môn học và các hoạt động giáo dục và để thực hiện các công việc chuyên môn dùng chung, công việc hỗ trợ, phục vụ của cơ sở giáo dục.

Những vị trí việc làm không đủ khối lượng công việc để thực hiện theo thời gian quy định của một người làm việc, bố trí thực hiện nhiệm vụ kiêm nhiệm. Những vị trí việc làm chưa bố trí được biên chế thì hợp đồng lao động hoặc kiêm nhiệm. Người được bố trí kiêm nhiệm phải được đào tạo, bồi dưỡng để đáp ứng năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của vị trí việc làm kiêm nhiệm.

Thông tư cũng nêu rõ, số lượng giáo viên trong các trường phổ thông công lập bao gồm giáo viên được tuyển dụng vào viên chức và giáo viên hợp đồng lao động. Số lượng người làm việc theo định mức và vị trí việc làm quy định tại Thông tư này được xác định theo quy mô lớp học của từng cơ sở giáo dục phổ thông.

W-giao-vien-89-1.jpg
Ảnh minh họa: Thanh Hùng

Thông tư quy định về chia vùng để làm căn cứ tính định mức giáo viên như sau:

- Vùng 1: Các xã khu vực II, khu vực III theo quy định hiện hành thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển; các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; các xã đảo, hải đảo, xã biên giới, xã an toàn khu theo quy định của Chính phủ;

- Vùng 2: Các xã khu vực I (trừ các phường, thị trấn) theo quy định hiện hành thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi;

- Vùng 3: Các phường, thị trấn thuộc khu vực I theo quy định hiện hành thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi và các xã, phường, thị trấn còn lại.

Số lượng học sinh/lớp theo vùng để làm căn cứ giao hoặc phê duyệt số lượng người làm việc trong các cơ sở giáo dục phổ thông như sau:

- Vùng 1: Bình quân 25 học sinh/lớp đối với cấp tiểu học; bình quân 35 học sinh/lớp đối với cấp THCS, THPT;

- Vùng 2: Bình quân 30 học sinh/lớp đối với cấp tiểu học; bình quân 40 học sinh/lớp đối với cấp THCS, THPT;

- Vùng 3: Bình quân 35 học sinh/lớp đối với cấp tiểu học; bình quân 45 học sinh/lớp đối với cấp THCS, THPT;

Việc xác định số lượng học sinh/lớp được tính cụ thể theo từng cơ sở giáo dục, không xác định theo đơn vị hành chính cấp xã, huyện, tỉnh.

Mỗi trường có 1 nhân viên tư vấn học sinh 

Thông tư cũng quy định cụ thể số lượng người làm việc vị trí việc làm chức danh nghề nghiệp chuyên ngành (giáo vụ, tư vấn học sinh, vị trí hỗ trợ giáo dục người khuyết tật, vị trí thiết bị thí nghiệm), vị trí việc làm chuyên môn dùng chung (thư viện, quản trị công sở, văn thư, thủ quỹ, kế toán) và vị trí việc làm hỗ trợ, phục vụ.

Một số điểm mới đáng chú ý tại thông tư như: Vị trí việc làm y tế chuyển sang nhóm vị trí việc làm hỗ trợ, phục vụ; vị trí việc làm công nghệ thông tin được thay bằng vị trí việc làm quản trị công sở; bổ sung 1 vị trí việc làm tư vấn học sinh.

Do có chuyển đổi về nhóm danh mục nên đối với vị trí y tế học đường, công nghệ thông tin, thông tư mới cũng đã có điều khoản chuyển tiếp để bảo đảm quyền lợi cho nhân viên y tế học trường, công nghệ thông tin đã được tuyển dụng cũng như đang thực hiện nhiệm vụ.

Thông tư này có hiệu lực từ ngày 16/12. Quý độc giả có thể xem cụ thể Thông tư số 20/2023/TT-BGDĐT (thay thế Thông tư số 16/2017/TT-BGDĐT) dưới đây: