- Sau trận thắng lớn của ta ngày 31/5/1985 tại cao điểm A6B, tình hình mặt trận Thanh Thủy chuyển biến rõ rệt theo chiều hướng có lợi cho ta.

Các đợt tiến công lấn chiếm của quân Trung Quốc nhằm đẩy lui lực lượng phòng ngự của ta ra khỏi phía Bắc suối Thanh Thủy (Vị Xuyên, Hà Giang) đều bị đẩy lui; bộ đội ta dần dần mở các đợt lấn dũi, đẩy lùi dần quân đối phương về phía các cao điểm chúng đã chiếm giữ trong năm 1984. Tháng 8, 9/1985, xảy ra các trận đánh lớn, nhưng phía đối phương đều bị thất bại.

Phía bên kia tiếp tục đưa các quân đoàn chủ lực của các đại quân khu phía sau ra “luân chiến”, nhưng chủ yếu chỉ sử dụng hỏa lực pháo binh trút đạn xuống các trận địa tiền tiêu và bắn bừa bãi sâu trong đất ta, cơ bản ít sử dụng bộ binh nống ra lấn chiếm thêm nữa, bởi lần nào nống ra đều bị đẩy lui.

Năm 1986 tình hình cơ bản vẫn là hai bên cầm cự, đấu pháo là chính. Bước sang năm 1987, tình hình đột nhiên "nóng" trở lại. Từ các ngày 5,6/1, đối phương lại pháo kích trên khắp tuyến biên giới. Đúng ngày 7/1/1987 - kỉ niệm ngày ta giúp bạn Campuchia giải phóng PhNompenh lật đổ chế độ diệt chủng Khmer Đỏ, đối phương sử dụng sư đoàn 139, quân đoàn 47, đại quân khu Lan Châu mở đợt tiến công "bạt điểm" được họ cho là “lớn chưa từng có từ sau năm 1979” tại một số cao điểm ở phía Tây sông Lô, định đẩy lui lực lượng ta khỏi khu vực Bắc suối Thanh Thủy để lấy đây là đường biên giới mới. Tuy nhiên, âm mưu này đã thất bại, họ bị thiệt hại nặng, mấy trăm lính chết và bị thương. 

Trận 7/1 được đối phương coi là thất bại lớn trong toàn bộ thời kỳ chiến tranh ở Vị Xuyên, là “trận duy nhất không có tổ chức lễ mừng công”… Chúng tôi ở Hà Nội mở đài Vân Nam nghe các bài biểu dương mấy bệnh viện dân sự sơ tán bệnh nhân lấy chỗ cấp cứu mấy trăm lính bị thương, ca ngợi gương bác sĩ X. một đêm thức trắng mổ cấp cứu mấy chục ca; bác sĩ Y. hiến mấy cơ số máu cứu thương binh rồi ngất xỉu... mà trong lòng thấy phấn khởi vì qua những thông tin này gián tiếp biết đối phương đã thua...

Chiến tranh Biên Giới 1979,Mặt trận Thanh Thủy

Bộ đội ta chuẩn bị truyền đơn, dùng nỏ phóng sang chốt của đối phương. Ảnh: Tác giả cung cấp

Sau trận 7/1/1987, tình hình chiến trường đột nhiên trở nên im ắng... Đã xuất hiện những dấu hiệu lạ: đầu tiên, anh em phòng ngự khu H, Bốn Hầm đã phát hiện có dấu hiệu binh sĩ đối phương ném thuốc lá, bánh kẹo, các mảnh giấy có ghi lời chào hỏi, làm quen sang phía ta nhằm tránh căng thẳng, giữ mạng sống, chờ ngày thay quân. Đặc điểm khu vực này ta và đối phương ở trong các hầm chất bằng rọ đá hoặc hốc đá tự nhiên ở rất gần nhau, nơi gần nhất chỗ H3, hầm hai bên ở hai phía một mỏm đá, chỉ cách nhau chưa tới 10m, ta có thể nghe rõ những lời quát tháo hay nói chuyện của lính Trung Quốc ở phía bên kia... sau trận thảm bại 7/1, ngày 30/4/1987, Trung Quốc đưa lực lượng Quân đoàn 27, Đại quân khu Bắc Kinh ra thay Quân đoàn 47, Đại quân khu Lan Châu.

Phía ta, sau khi bộ đội sư đoàn 356 vào thay phòng ngự khu H phát hiện thấy binh sĩ đối phương ở trận địa đối diện có dấu hiệu muốn hòa bình, không muốn đánh nhau. Họ thăm dò bằng cách ra hiệu bắt tay nhau, không bắn nhau, có lúc ra khỏi công sự vẫy chào... Tin tức từ tuyến trước được báo cáo lên chỉ huy. Các đồng chí lãnh đạo chỉ huy sư đoàn 356 đã nhanh nhạy chỉ đạo tổ chức cho bộ đội tiếp xúc, trao đổi quà, thỏa thuận ngừng bắn. Tại chốt H3, theo yêu cầu của ta, lính Trung Quốc đã gỡ bỏ các quả mìn định hướng gài hướng sang phía ta, thỏa thuận không bắn tỉa nhau. Thậm chí khi bọn chỉ huy phía sau chuẩn bị nã pháo, binh lính ở các điểm tiền tiêu đều thông báo trước cho anh em ta biết...

Tin tức về hiện tượng này được báo về Bộ. Khi đó cũng có ý kiến tỏ ý hoài nghi. Thủ trưởng Tổng cục chính trị giao Cục Tuyên truyền đặc biệt cử một tổ công tác trực tiếp đi nghiên cứu, nắm tình hình, với yêu cầu “nếu có phải mang được bằng chứng về”. Thiếu tướng Cục trưởng Đặng Văn Duy quyết định thành lập tổ công tác do Trung tá Hoàng Duy Hòa, Phó Trưởng phòng Nghiên cứu chỉ đạo công tác nghiệp vụ dẫn đầu lên đường ngay. Thành viên có Thiếu tá Khuất Duy Đạo, đại úy Bùi Thuận Hóa và đại úy Trịnh Hồng Việt (sau là Đại tá, Phó Giám đốc Viện Bảo tàng Quân sự Việt Nam). Phương tiện mang theo ngoài súng ngắn, còn có máy ghi âm cat-set loại “cục gạch”, 1 máy ảnh Kiev cổ lỗ, mấy cuốn băng cat-set ghi nhạc disco và ca khúc Việt Nam cùng mấy bao thuốc lá, ít kẹo Hải Châu...

Ngày 29/7, chúng tôi lên đường. Chiếc Rumani “đít vuông” cà tàng do tài xế Trung “ngọng” lái chạy từ sáng sớm đến tận chiều tối mới lên được SCH tiền phương QK2 ở thị xã Hà Giang. Sau khi nghỉ ngơi, trao đổi tình hình và chờ đợi một ngày, tối hôm sau 1 đồng chí trợ lý tác chiến của SCH dẫn chúng tôi vào mặt trận. Dạo đó tuy chiến sự đã khá “êm”, nhưng đối phương vẫn thỉnh thoảng pháo kích, nhất là khi đài quan sát của họ phát hiện có xe ta từ Hà Giang vào. Vì vậy xe phải chạy không đèn. Đường khấp khểnh rất khó đi, qua thị xã 6 - 7km là đã chi chít hố pháo ven đường và cả trên mặt đường. Cậu Trung bảo “Các anh bám chắc vào, đu người lên để em phóng”. Có lúc xe chạy qua đoạn vừa bị Trung Quốc pháo kích ít phút trước, mùi khói đạn còn nồng nặc.

Vào đến Làng Pinh, hậu cứ của sư đoàn 356, chúng tôi đề nghị cho lên SCH đặt ở cao điểm 812 ngay, nhưng anh em nói ban đêm lên đó nguy hiểm, sáng mai sẽ bố trí theo xe của sư đoàn lên sớm. Chúng tôi nghỉ đêm tại Làng Pinh. Sáng sớm hôm sau, khi trời còn đầy mù, mấy anh em từ giã chiếc Rumani già cỗi, lên chiếc xe tải Gad 51 của sư đoàn chở hàng lên 812. Đường quanh co, dốc đứng, xe liên tục rồ ga chạy trong màn sương mù, thỉnh thoảng lại xóc nảy người, rồi cũng lên được đến nơi trong sự thở phào nhẹ nhõm của mọi người.

Tại SCH đặt trong hầm, Đại tá sư đoàn trưởng 356 Nguyễn Văn Được (nay là Chủ tịch TW Hội Cựu chiến binh Việt Nam) đích thân tiếp chúng tôi. Sau khi nghe Trưởng đoàn Hoàng Duy Hòa báo cáo về mục đích của chuyến công tác, đồng chí Được thông báo vắn tắt tình hình tiếp xúc giữa binh sĩ hai bên ở một số khu vực phòng ngự của sư đoàn, khẳng định đây là hiện tượng có thật, sư đoàn đã vận dụng để làm công tác tuyên truyền đặc biệt (TTĐB), giảm thương vong cho bộ đội và giữ vững được trận địa phòng ngự... Chiều hôm đó, đoàn tách làm 2 bộ phận: hai anh Hòa và Việt sang khu vực đồi đất để nắm tình hình công tác TTĐB và viết bài tuyên truyền; tôi (Hóa) và anh Đạo mang theo máy ảnh, băng nhạc theo chiến sĩ trinh sát của sư đoàn lên đường vào khu H. Anh Được nói sư đoàn đã cấp máy catset cho đơn vị trong đó và cả thuốc lá, bánh kẹo, truyền đơn để anh em dùng cho tiếp xúc.

Tôi, anh Đạo theo chiến sĩ trinh sát chạy bộ từ 812 xuống, qua “bãi Tử thần”, vượt cây cầu khỉ bắc qua “Suối gọi hồn” trước cửa Hang Dơi, vào nghỉ trong hang Làng Lò rồi tranh thủ đêm tối mò mẫm chui hào, leo vách đá, trèo thang dây lên khu H. Tại H1, đồng chí trinh sát “bàn giao” 2 anh em tôi cho đồng chí Nghĩa, tiểu đoàn phó chính trị rồi quay ra. Anh Nghĩa người Hải Dương, là giáo viên quân sự của Đại học Tổng hợp xuống đơn vị thực tế, được phân công vào chốt giữ khu H cùng anh em. Ở đây đã lâu nên anh em ai nấy râu tóc đều để dài. Sau mới biết, do điều kiện ăn ở khó khăn và cũng bởi lý do quan trọng nữa là lính chiến kiêng cắt tóc cạo râu, kẻo rủi ro (!).

Chúng tôi ăn cơm tại H1, có canh thịt hộp, dưa giá hộp, có cả lòng lợn do lính vận tải vừa gùi hàng từ hang Làng Lò mang lên. Cũng có cả tí “cay”. Thấy tôi ngạc nhiên, anh Nghĩa nói: anh em ủ men cơm nguội và tự nấu bằng...mặt nạ phòng độc. Vừa ăn cơm, anh Nghĩa vừa trao đổi tình hình: sau trận ngày 7/1 đối phương có nống ra mấy lần nhưng đều bị ta ngoan cường chặn lui nên co lại. Hiện nay tình hình khu vực H gồm 3 điểm H1, H2, H3 khá yên bình.

Chiến tranh Biên Giới 1979,Mặt trận Thanh Thủy

Tác giả (thứ 2, trái sang) cùng các chiến sĩ bộ đội trên chốt H2. Ảnh: Tác giả cung cấp

Nhờ tiếp xúc, lính hai bên đã đạt được thỏa thuận không bắn tỉa nhau bằng dấu hiệu nhận biết là “cởi trần quần đùi”. Bộ đội ở H3 và lính chốt phía Trung Quốc hầu như ngày nào cũng gặp gỡ nhau vào lúc sáng sớm khi sương mù chưa tan; nhưng khi mặt trời lên, sương tan thì lính hai bên đều chui cả vào hầm được chất bằng các rọ đá. Đêm xuống thì tất cả đều vào hầm, anh em vẫn canh gác suốt đêm và thỉnh thoảng cả ta và đối phương đều tung lựu đạn ra cửa hầm đề phòng bên kia tập kích. Ngoài ra anh em cũng làm hệ thống cảnh giới bằng các chuỗi dây xâu vỏ lon, nếu thấy có động là quăng lựu đạn, nhưng nhiều khi do chuột chạy vướng dây nên cũng tương lựu đạn vì tưởng địch mò sang...

Ăn uống xong, anh Nghĩa dẫn chúng tôi đi lên H2, khu vực cách H3 khoảng hơn trăm mét. Chúng tôi nằm tại một căn hầm ở H2, nhưng suốt đêm nằm nói chuyện, không thể ngủ được bởi tiếng lựu đạn “cầm canh” chát chúa, bởi cái mùi đặc biệt tổng hợp của mồ hôi, ẩm mốc, mùi phân, nước tiểu do anh em phải “xả” ngay trong hầm rồi vứt ra ngoài; và cũng bởi lũ chuột thường xuyên chăm sóc khách lạ bằng cách... gặm chân...

Hôm sau, trời chưa sáng, chúng tôi đã bò lên H3 để bố trí cho anh em chủ động gọi lính bên kia ra tiếp xúc. Anh em chọn vị trí cho tôi nằm cách chỗ 2 bên gặp nhau khoảng 4m, ngồi che để tôi chụp ảnh bởi nếu phát hiện có người lạ phía sau lên là chúng chui vào hầm ngay. Thật tiếc là trời mù, máy ảnh lại không có ống kính zoom nên ảnh hưởng khá nhiều đến việc tác nghiệp. Bố trí đâu đấy thì trời rạng sáng, thấy lính ta hô “1,2,3,4” ra thể dục; lính bên kia cũng “i, ơ, xan, xư...” rôm rả. Rồi bất ngờ thấy có tiếng gọi “Nam ui”. “Nó đấy, nó gọi cậu Nam đấy”. Thì ra ở nhau gần quá, lính Tàu nghe lính ta gọi nhau nên nhớ tên, thỉnh thoảng lại gọi như thế. Theo kế hoạch, anh em ta mang bao thuốc thơm D'rao và gói kẹo Hải Châu cùng băng nhạc BoneyM ra, phía bên kia xách đài catset tới. Và một cảnh tượng có lẽ không bao giờ có trong bất cứ cuộc chiến tranh nào đã diễn ra ngay trước mắt tôi: 5-6 gã lính chiến hai bên cởi trần, quần đùi, râu tóc dài thượt, miệng phì phèo thuốc lá, uốn mình nhảy giật theo những nhịp trống của các ca khúc của ban nhạc disco Latin BoneyM đang thịnh hành khi đó.

Tôi run lên do xúc động bởi một cảm giác khó tả, cứ giơ máy lên giữa khe người 2 chiến sĩ ngồi chắn trước mặt, bấm, lên phim, lại bấm... Cuộc tiếp xúc diễn ra khoảng 20 phút thì mặt trời lên, sương mù tan dần, lính hai bên bắt tay chào nhau. Ta tặng họ băng nhạc, thuốc lá, kẹo kèm theo truyền đơn. Họ tặng lại thịt hộp và mấy cuốn truyện tranh Tam Quốc...

Khi về đến Hà Nội, tôi hồi hộp mang cuộn phim xuống bộ phận làm ảnh của tổng cục để in tráng. Khi những hình ảnh mờ mờ của cuộc tiếp xúc và phong cảnh “Lò vôi thế kỷ” hiện ra tôi mới thở phào nhẹ nhõm... Kết quả chuyến đi được báo cáo lên Tổng cục Chính trị và báo cáo sang Bộ... Rồi chúng tôi được Văn phòng Bộ thông báo: Bộ trưởng Lê Đức Anh sẽ sang Cục trực tiếp nghe tổ công tác báo cáo.

Một ngày đầu tháng 8/1987, tại Phòng họp của Cục Tuyên truyền đặc biệt. Tổng cục Chính trị ở tầng 1 nhà H7, sau khi nghe chúng tôi báo cáo và xem những hình ảnh, hiện vật, Bộ trưởng Lê Đức Anh trầm ngâm rồi nói: “Tôi đã biết đây là cuộc chiến tranh không bên nào muốn tiến hành mà. Tới đây sẽ phải có những quyết định quan trọng...”. Rồi Bộ trưởng chỉ đạo: “Cần duy trì và mở rộng việc tiếp xúc, gặp gỡ binh sĩ đối phương trên các hướng phòng ngự. Các hướng khác có thể triển khai thí điểm vài nơi tiếp xúc với binh sĩ và nhân dân nước đối phương để làm công tác tuyên truyền đặc biệt, nhưng cần có sự lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ của cấp ủy và người chỉ huy”...

Sau đó, ngày 27/8/1987, Cục Tuyên truyền đặc biệt ra Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền đặc biệt trong tiếp xúc ở mặt trận Vị Xuyên, Hà Tuyên...mở ra giai đoạn mới: tiến hành tiếp xúc vận động binh sĩ Trung Quốc tại các trận địa tiền duyên để chống lấn chiếm, giữ đất.

Đại tá - Cựu chiến binh Bùi Thuận Hóa