Nguyên tắc chiếm hữu thật sự luôn đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc giải quyết tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ trải dài từ cuối thế kỷ 19 cho đến ngày nay. Nó được cơ quan tài phán quốc tế vận dụng một cách thật sự linh hoạt để đưa ra phán quyết chủ quyền với những lãnh thổ có điều kiện địa lý và tự nhiên khác nhau.

LTS: Tranh chấp chủ quyền lãnh thổ trong đó có tranh chấp chủ quyền biển đảo đã xuất hiện ở nhiều khu vực trên phạm vi toàn thế giới. Giải pháp được đúc kết là: mọi sự tranh chấp chủ quyền nếu không được giải quyết bằng pháp luật sẽ khó đem lại sự bình yên cho khu vực đó. Tuần Việt Nam xin giới thiệu bài nghiên cứu này để độc giả cùng tham khảo, suy ngẫm.

Kỳ 1: Tranh chấp lãnh thổ: Uy lực của tòa

5.    Phán quyết của Tòa đối với vụ án tranh chấp biên giới trên bộ và trên biển giữa Cameroon và Nigeria năm 2002

Khái quát chung về chung về biên giới trên biển và trên bộ vùng hồ Chad: vùng hồ Chad đã được phân định từ thời thực dân giữa 3 nước Anh, Pháp và Đức. Nhưng hai quốc gia Cameroon và Nigeria đã bất đồng khi áp dụng đường biên giới đó. Năm 1994, Cameroon đệ đơn đến Tòa án Công lý quốc tế, khởi đầu cho việc giải quyết tranh chấp chủ quyền vùng biên giới trên bộ và trên biển giữa hai quốc gia.

Cơ sở pháp lý và lập luận của hai bên:

Lập luận của Cameroon: Cameroon khẳng định chủ quyền vùng hồ Chad do kế thừa từ thời thực dân. Cameroon đã thực thi chủ quyền bằng các cuộc viếng thăm của quan chức địa phương, bầu cử, duy trì pháp luật và an ninh, họp mặt các trưởng làng, thu các loại thuế.

Từ năm 1987, Cameroon đã phản đối Nigeria dùng quân đội tiếp quản trạm huấn luyện nghề cá và tìm cách quản lý hành chính khu vực tranh chấp. Đồng thời phản đối Nigeria vi phạm nguyên tắc estoppel vì trước kia đã công nhận đường biên giới từ thời thực dân và giao phó cho Ủy ban cắm mốc, coi hành vi của Nigeria là xâm chiếm, vi phạm luật pháp quốc tế.

Lập luận của Nigeria: Trên thực tế Nigeria chỉ công nhận một số nội dung phân định ranh giới từ thời thực dân, không công nhận sự khẳng định chủ quyền bằng chiếm hữu thật sự thông qua hoạt động hỗ trợ y tế – giáo dục, quản lý, giám sát, thu thuế các làng ở vùng hồ Chad mà không có phản đối của Cameroon.

Phán quyết của Tòa:

Đường biên giới thời thực dân vẫn giữ nguyên hiệu lực. Cameroon đã nắm giữ chủ quyền trước khi Nigeria thực thi chủ quyền, mặc dù họ không có hoạt động thường xuyên nhưng luôn tìm cách thực thi chủ quyền, cho dù có rất ít thành công, họ đã rõ ràng phản đối hành vi của Nigeria. Nigeria đã thua kiện cho dù đã thực thi quyền lực nhà nước trên lãnh thổ tranh chấp bởi nó không đáp ứng tiêu chí hòa bình của chiếm hữu thật sự.

Chủ quyền, tranh chấp, kiện pháp lý, Trung Quốc, Tòa án

Phán quyết pháp lý về tranh chấp biển đảo. Ảnh minh họa: CSIS

6.    Phán quyết của tòa đối với Vụ tranh chấp đảo Pulau Ligitan và Pulau Sipadan giữa Malaysia và Indonesianăm 2002

Pulau Ligitan và Pulau Sipadan là hai đảo nhỏ không có dân cư sinh sống, giá trị kinh tế không lớn, tranh chấp từ năm 1969 do cả hai quốc gia đều viện dẫn quyền sở hữu từ thời phong kiến (hồi thế kỷ XVI), điều ước quốc tế thời thuộc địa, nhưng không được Tòa công nhận nên hai nước đã viện dẫn chiếm hữu thật sự trước năm 1969 để khẳng định chủ quyền.

Lập luận của các bên: Lập luận của Indonesia: Indonesia viện dẫn báo cáo của tàu Hà Lan khẳng định hai đảo thuộc quyền sở hữu của Hà Lan, các cuộc điều tra thủy văn xung quanh hai đảo, cuộc viếng thăm của hải quân, ngư dân có truyền thống đánh bắt xung quanh hai đảo.

Lập luận của Malaysia: Malaysia cho rằng thời thuộc địa, Anh đã thu thập, quản lý, kiểm soát trứng rùa trên đảo từ năm 1914, có pháp lệnh bảo tồn rùa, giải quyết tranh chấp liên quan đến thu thập trứng rùa, cấp phép cho tàu đánh cá xung quanh đảo, xây hải đăng và trợ giúp đường biển cho hai đảo mà Indonesia không phản đối; sau thời thuộc địa, Malaysia đã luôn khẳng định chủ quyền trong quá trình đàm phán với Indonesia về thềm lục địa trong khi Indonesia không quan tâm đòi chủ quyền hai đảo, Malaysia cũng đã khai thác du lịch, giữ an ninh, môi trường cho Sipidan đến hiện tại, năm 1997, hai đảo là khu bảo tồn của Malaysia.

Phán quyết của Tòa:

Indonesia không có hoạt động lập pháp đối với đảo, đạo luật năm 1960 và bản đồ kèm theo không đề cập đến hai đảo, chuyến đi của tàu Hà Lan được xác định là hoạt động chung của Hà Lan và Anh để chống cướp biển, việc đánh bắt cá chỉ là hoạt động tư nhân vì không có quy định của Chính phủ, Indonesia đã không thể hiện có ý định thiết lập chủ quyền.

Malaysia đã điều tiết, kiểm soát trứng rùa, thực hiện kế hoạch dự trữ gia cầm cho quốc gia là hoạt động thẩm quyền hành chính nhà nước trên các đảo.

Bên cạnh đó là sự im lặng của Indonesia. Tòa cho rằng Malaysia kế thừa đảo từ Anh và đã tiến hành các hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp, diễn ra trong thời gian dài, thể hiện ý định thực thi quyền lực nhà nước đối với hai đảo. Malaysia thắng kiện.

7.    Vụ tranh chấp đảo Branca/Pulau Batu Puteh, Middle Rocks và South Ledge giữa Malaysia và Singapore năm 2008

Tranh chấp này tương tự như tranh chấp đảo Ligitan và Sipadan, nhưng điểm khác biệt là Tòa xác định quyền sở hữu nguyên gốc các đảo thuộc về Malaysia, nhưng Tòa lại trao chủ quyền cho Singapore bởi Singapore đã có một số hoạt động chiếm hữu thật sự như:

Thám hiểm xác tàu đắm trong lãnh hải của đảo, thăm dò các vùng nước xung quanh đảo, có kế hoạch khai hoang các khu vực xung quanh đảo, tất cả các hoạt động này diễn ra trong sự im lặng của Nhà nước phong kiến Malaysia và hiện tại, thậm chí sau tháng 6/2003, thời điểm thỏa thuận đưa vụ việc ra giải quyết tại Tòa có hiệu lực, thì Malaysia mới phản đối những việc Singapore đã làm từ những năm 1980.

Có thể thấy rằng, nguyên tắc chiếm hữu thật sự luôn đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc giải quyết tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ trải dài từ cuối thế kỷ 19 cho đến ngày nay. Nó được cơ quan tài phán quốc tế vận dụng một cách thật sự linh hoạt để đưa ra phán quyết chủ quyền với những lãnh thổ có điều kiện địa lý và tự nhiên khác nhau.

Nguyên tắc chiếm hữu thật sự cũng hoạt động trong mối quan hệ tương thích với những quy định khác của luật quốc tế hiện đại để xác định và bảo vệ chủ quyền quốc gia, như: Nguyên tắc bình đẳng giữa các quốc gia, cấm sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế, quy chế của các vùng biển, đảo trong luật biển.

Kết Luận

Qua phân tích những án lệ về giải quyết tranh chấp chủ quyền biển đảo trên cho thấy: trước năm 1922, việc giải quyết tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ giữa các quốc gia do Trọng tài quốc tế tiến hành.

Từ khoảng năm 1922 đến năm 1945 công việc này do Tòa án thường trực Công lý quốc tế đảm nhiệm, từ năm 1945 đến nay thì thuộc Tòa án Công lý quốc tế. Tính đến nay, các cơ quan tài phán này đã giải quyết khoảng 20 vụ tranh chấp chủ quyền lãnh thổ.

Khi giải quyết các tranh chấp đó, các trọng tài và thẩm phán đều viện dẫn tới nguyên tắc chiếm hữu thật sự để quyết định sẽ trao chủ quyền lãnh thổ cho quốc gia nào.

Nguyên tắc chiếm hữu thật sự được hình thành từ năm 1885, đáp ứng nhu cầu giải quyết tranh chấp chủ quyền lãnh thổ ở các khu vực châu Phi giữa các nước châu Âu trong quá trình đi tìm vùng đất mới của các nước này, ghi nhận tại Định ước Berlin với hai nội dung chủ yếu: Thứ nhất, quốc gia chiếm hữu lãnh thổ phải thông báo cho các nước khác.

Thứ hai, nước chiếm hữu phải có hiện diện của tổ chức chính quyền tại chỗ để thi hành pháp luật. Sau đó, Tuyên bố của Viện Pháp luật quốc tế ở Lausanne của Thụy Sĩ năm 1888 tiếp tục khẳng định nguyên tắc chiếm hữu thật sự nhưng nhấn mạnh thêm rằng: Việc chiếm hữu phải là thực sự – thực tế chứ không phải trên danh nghĩa.

Tuy nhiên, khi Thế chiến I kết thúc, Hiệp ước Saint – Germain ngày 10/9/1919 đã tuyên bố hủy bỏ Định ước Berlin với lý do trên thế giới không còn lãnh thổ vô chủ nữa. Nhưng do tính hợp lý và khoa học của nguyên tắc chiếm hữu thực sự mà các cơ quan tài phán quốc tế vẫn viện dẫn nguyên tắc này khi giải quyết tranh chấp chủ quyền lãnh thổ giữa các quốc gia.

Quá trình đó làm cho nguyên tắc chiếm hữu thật sự ban đầu đã có những thay đổi nhất định, nó trở lên linh hoạt và có thể vận dụng để giải quyết hầu hết các tranh chấp chủ quyền lãnh thổ với những đặc điểm địa lý và tự nhiên hoàn toàn khác nhau.

Qua đó chỉ ra, chiếm hữu thật sự gồm ba điều kiện sau: 1. Chủ thể chiếm lãnh thổ phải là quốc gia. 2. Đối tượng chiếm hữu phải là lãnh thổ vô chủ hoặc bị bỏ rơi. 3. Hành vi chiếm hữu phải hội tụ đủ cả yếu tố vật chất và tinh thần của chủ thể chiếm hữu.

Yếu tố vật chất thể hiện rằng hành vi chiếm hữu phải diễn ra trong điều kiện hòa bình, thực sự, đầy đủ, liên tục trong thời gian dài nhất định phù hợp với điều kiện tự nhiên của lãnh thổ.

Yếu tố tinh thần thể hiện rằng quốc gia chiếm hữu phải thể hiện rõ ý định chiếm hữu lãnh thổ của mình./.

Thiếu tá, TS. Nguyễn Thanh Minh, Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển, Bộ Quốc phòng.

Chuyên mục hợp tác cùng chuyên trang Nghiên cứu Quốc tế (nghiencuuquocte.net)

Tiêu đề do TVN đặt lại.

—————–

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.    Nguyễn Thanh Minh đồng chủ biên (2012), Quy chế pháp lý quốc tế giải quyết tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông lý luận và thực tiễn, Nxb. Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội.

2.    Nguyễn Thanh Minh (2011), Quy chế pháp lý quốc tế đối với các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia ven biển từ lý luận đến thực tiễn, Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, số 10.

3.    Nguyễn Thanh Minh (2014), Về một số hội nghị quốc tế liên quan đến chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa giai đoạn 1943 – 1951, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 9.

4.    Nguyễn Thanh Minh (2014), Một số vấn đề về quy chế pháp lý của vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, Tạp chí Khoa học Chính trị Quân sự, số 5.

5.    Nguyễn Thanh Minh (2014), Quan điểm xây dựng chính sách biển cận đại và hiện đại, Tạp chí Kinh tế và Chính trị Thế giới, số 12.

6.    Nguyễn Thanh Minh (2015), Các quốc gia trong khu vực Biển Đông cần tuân thủ nghiêm Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển quốc tế năm 1982, Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, số 3.

7.    Tuyển tập các phán quyết Trọng tài quốc tế, Tập XXVIII, tr. 121-123, tập XI, tr. 21-23, Tập II, tr. 1110-1111.

8.    Tuyển tập các phán quyết của Pháp viện thường trực quốc tế, serie A/B, N° 53, tr.46, 63-64.

9.    Tuyển tập các phán quyết của Toà công lý quốc tế,1953, tr. 47-73; 1975, tr. 39, Para 79; 2002, tr. 303-458, Para 48,53,62-70, tr. 625-686; 2008, tr.1-81.

———————-

[1] Indonesia trước đây là thuộc địa của Hà Lan.

[2] Philippines trước đây là thuộc địa của Tây Ban Nha.

[3] Reports of International Arbitral Awards Recueil Dessentences Arbitrales. Island of Palmas case (Netherlands, USA), 4 April 1928, Volume II pp. 829 – 871.

- See more at: http://nghiencuuquocte.org/2016/01/12/phan-quyet-phap-ly-tranh-chap-chu-quyen/#more-13555