Trong hồi ức của PGS. TS Vũ Dương Huân, "suốt một thời gian dài chúng ta bị ý thức hệ chen vào. Chúng ta không dám thừa nhận lợi ích quốc gia dân tộc là nguyên tắc, là mục tiêu cao nhất của chính sách đối ngoại vì sẽ ngược với lợi ích quốc tế, lợi ích của giai cấp công nhân".

LTS:Nhìn lại hành trình sau 30 năm ĐỔI MỚI đất nước, sẽ là thiếu sót nếu chúng ta không thấy được những đóng góp của ngành ngoại giao Việt Nam.

Trong sự phát triển chung của đất nước, công tác đối ngoại đã có những đóng góp lớn, tham mưu cho Đảng, Nhà nước chuyển từ thế bị bao vây, cấm vận sang bình thường hóa quan hệ với các nước; Thiết lập quan hệ với 185 nước trong tổng số 193 nước của Liên Hợp Quốc và tham gia vào 70 tổ chức quốc tế, khu vực và đóng vai trò tích cực chủ động và có trách nhiệm; Tiếng nói của Việt Nam trên trường quốc tế được các nước trong khu vực và quốc tế tôn trọng, nhiều sáng kiến của chúng ta được cộng đồng quốc tế hoan nghênh.

Tiếp chuyên đề nhìn lại 30 năm ĐỔI MỚI, Tuần Việt Nam xin giới thiệu cuộc trò chuyện của chúng tôi với ông Vũ Dương Huân với tư cách là một Nhà Sử học. Ông Huân nguyên là Giám đốc Học viện Ngoại giao Việt Nam, nguyên Trưởng ban Nghiên cứu lịch sử Ngoại giao, Cựu đại sứ Việt Nam tại Ba Lan và Ucraina.

Những bài học do chuyển biến chậm

Nhìn lại 30 năm đổi mới dưới ngọn cờ của Đảng Cộng sản Việt Nam, theo ông, những đổi mới nào là quan trọng nhất, tác động lớn đến đường lối đối ngoại của đất nước ta?

Ông Vũ Dương Huân: Đổi mới nhận thức về tư duy, trước hết là đổi mới nhận thức thời đại mới về khu vực ngày càng rõ hơn và đầy đủ hơn.

Về thế giới: Nếu như trước kia chúng ta xác định hai phe, bốn mâu thuẫn theo tinh thần văn kiện các Hội nghị các Đảng cộng sản và công nhân năm 1957 và 1960 là đúng, thì suốt từ giai đoạn dài đến tận Đại hội Đảng VII (1991) vẫn xác định như vậy. Chúng ta cho rằng thời đại của Cách mạng Tháng Mười mở ra là giai đoạn quá độ từ CNTB lên CNXH, song chúng ta nhân thức rõ hơn tính chất phức tạp của quá trình chuyển biến xã hội, chú ý đến đăc trưng, xu hướng và tính chất giai đoạn hiên nay của thời đại.Tuy nhiên, nhận thức đã được đổi mới từ Đại hội VII, chứ không trần xì là hai phe, bốn mâu thuẫn như cái thời 1957 – 1960 nữa.

Kinh nghiệm xương máu: “Đừng để bị đá ra rìa”
Ông Vũ Dương Huân

Về tư duy mục tiêu nhiệm vụ, chính sách đối ngoại, chúng ta cũng đặt ra rất rõ ràng. Đặc biệt là vấn đề lợi ích quốc gia, dân tộc là tối thượng. Tại Đại hội Đảng XI chúng ta đã khẳng định điều đó  một cách rõ rằng trong đường lối chính sách đối ngoại. Nhưng hãy nhớ, từ năm 1964, khi phát biểu tại Hội nghị Ngoại giao lần thứ ba, Bác Hồ đã nói: làm cái gì cũng phải vì lợi ích dân tộc. Bác không nói “chính lợi ích quốc gia dân tộc là nguyên tắc cao nhất, là mục tiêu của chính sách đối ngoại”, nhưng giới nghiên cứu chúng tôi ai cũng hiểu Bác hàm ý như vậy.

Suốt một thời gian dài chúng ta bị ảnh hưởng của ý thức hệ. Trong bối cảnh thế giới chia làm hai phe, mà chúng ta thuộc phe XHCN, thì khó có thể làm  khác được. Đến tận Hội nghị Trung ương III của khóa VII (tháng 6/1992) chúng ta nêu bốn phương châm thì phương châm thứ nhất đáng ra phải coi lợi ích quốc gia dân tộc là mục tiêu là nguyên tắc thì ta lại nói chung chung là “kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân”.

Vai trò đối ngoại đối với bảo vệ Tổ Quốc cũng đã hiện thân rõ hơn tại Nghị quyết Bộ Chính trị XIII (5/1988). Ông Nguyễn Cơ Thạch chính là người đã nêu ý tưởng: Phải cân đối giữa chi tiêu cho quốc phòng và các khoản chi tiêu phát triển khác. Trong Nghị quyết 13 đưa ra chủ trương quốc phòng là vừa đủ, kinh tế phải phát triển và yếu tố cực kì quan trọng là phải có quan hệ ngoại giao cực kì rộng rãi, là nhân tố bảo vệ độc lập chủ quyền, bảo vệ Tổ quốc.

Chúng tôi nghe nói rằng Bộ Quốc phòng hồi đó đã quyết định giảm bớt quân số đi?

Ông Vũ Dương Huân: Đúng. Nhưng quyết định đó là để thực thi Nghị quyết 13.

Trong Nghị quyết 13 cũng nhấn mạnh được cái nhiệm vụ trọng tâm của chúng ta chính là giữ vững hòa bình để phát triển đất nước. Nghị quyết 13 còn nêu rõ vấn đề trọng tâm để tháo gỡ và thúc đẩy đối ngoại đi lên chính là vấn đề giải quyết vấn đề Campuchia và bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc. Chính vì vậy người ta gọi Nghị quyết 13 là điểm đột phá trong chính sách đối ngoại.

Trong Nghị quyết 13, chính sách đa dạng hóa, đa phương hóa mới đề cập một cách mờ nhạt, nhưng thực chất đây là khởi đầu cho chính sách quan trọng này khi sang tới Đại hội VII.

Đến Đại hội VII, chủ trương này được khái quát thành chính sách đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ, trên cơ sở độc lập tự chủ. Đấy là chuyển hướng lớn của toàn Đảng, toàn dân, nhưng đóng góp lớn nhất là của Bộ Ngoại giao, đứng đầu là Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch.

Nắm vững thông lệ quan hệ quốc tế cũng là nhận thức lớn về đối ngoại. Đường lối chủ trương chính sách đối ngoại của chúng ta từng theo con đường nhận thức vồ vập, neo kẹt trong hòn đá tảng. Cuối năm 1991, chúng ta đã nhận thức dần dần, chuyển sang sang đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại. Nghị quyết Trung ương 3 năm 1992 đã nêu rõ điều đó.

Đừng để bị đá ra ngoài rìa

Ông được coi là một trong những nhân chứng của một giai đoạn quan trọng trong hành trình phát triển của dân tộc, theo ông trong đường lối đối ngoại, các bước nhận thức về thế giới và cách thích nghi của Việt Nam chúng ta đã diễn ra như thế nào?

Ông Vũ Dương Huân: Đại hội VII nêu chủ trương “muốn là bạn”, Đại hội VIII nói rằng “sẵn sàng là bạn”, đến Đại hội X chúng ta nói là “đối tác”, và đến Đại hội XI thì xác định “là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế”.

Đổi mới để nhận thức hợp tác và đấu tranh trong quan hệ “địch – ta” cũng chuyển từ đối tác - đối tượng, một cách dần dần, lần đầu tiên tại Hội nghị Trung ương 8, khóa IX (2003) về chiến lược bảo vệ Tổ quốc.

Kinh nghiệm xương máu: “Đừng để bị đá ra rìa”

Nguyên Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm (thứ 2 từ phải) cùng các Ngoại trưởng ASEAN trong cuộc họp kết nạp Việt Nam vào ASEAN tại Brunei. Ảnh: Chinhphu.vn

Ví dụ, có những nươc đươc coi là  đối tượng, nhưng  hợp tác lại rất nhiều đặc biệt là kinh tế-thương mại. Có những nước là đồng minh theo ý thức hệ, nhưng là đối tượng nhiều nhất tác động đến độc lập chủ quyền của Việt Nam. Sau này chúng ta mới tìm ra được công thức rành mạch rõ ràng và dễ xử lí các đối tác - đối tượng: Anh nào là đối tượng là anh ấy vi phạm, gây tác động xấu đến độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của chúng ta, còn anh nào là đối tác tức là thúc đẩy quan hệ hợp tác.

Từ phá thế bao vây cấm vận chúng ta chuyển sang giai đoạn hội nhập với khu vực  và toàn thế giới. Hội nhập quốc tế dần dần trở thành chính sách đối ngoại lớn của Việt Nam. Tôi nhớ tại Đại hội IX, đây là vấn đề cực kì gây tranh luận, vì mọi người phản đối hội nhập, cho rằng hội nhập là sẽ chết, trong khi đó có những người khẳng định ắt phải hội nhập, không hội nhập sẽ chết.

Ông Nguyễn Chí Trung, Trợ lý Tổng bí thư đã phát biểu trên hội trường Bộ Ngoại giao, nhấn mạnh hội nhập vừa đem lại cái lợi, đồng thời cái tiêu cực cũng ngang nhau.  Song, hội nhập là tính quy luật và “nếu không xông vào thì anh sẽ bị đá ra ngoài rìa”.

Đại hội IX đã nhấn mạnh về hội nhập kinh tế. Đại hội XI (2011), các đại biểu nâng tầm lên hội nhập toàn diện, tức là ngoài hội nhập về kinh tế còn hội nhập về chính trị, an ninh, quốc phòng, văn hóa, xã hội. Quan điểm đó rất đúng, nhưng trên thực tế việc gia nhập ASEAN vào năm 1995 thì rõ là chúng ta đã hội nhập toàn diện rồi đấy. Việc ký Hiệp định Thương mại Việt – Mỹ hồi năm 2000 cũng là minh chứng chúng ta hội nhập toàn diện, chứ không chỉ ở khía cạnh kinh tế.

Nội bộ lùng bùng làm lỡ cơ hội

Nếu nhìn lại một cách bình tĩnh, những thành tựu nổi bật mà ngành Ngoại giao được hưởng từ luồng gió ĐỔI MỚI trong 30 qua là gì, thưa ông?

Ông Vũ Dương Huân: 1. Từ khi Mỹ, ASEAN và các nước khác dần dần bỏ bao vây cấm vận đối với nước ta.

2. Cho đến  bây giờ Việt Nam có quan hệ song phương với 186 nước, trong số 193 nước thành viên của Liên Hiệp Quốc. Hay về tổ chức quốc tế, lúc đầu Việt Nam tham gia chỉ có SEV (Hội đồng Tương trợ Kinh tế của các nước XHCN), năm 1976 Việt Nam kế tục qui chế hội viên tại IMF, vậy mà đến thời điểm này Việt Nam là thành viên của hơn 70 tổ chức quốc tế lớn ở khu vực và trên thế giới. Về thị trường làm ăn, chúng ta từ thế bị cấm vận nay đã có quan hệ với hơn 220 thị trường.

3. Đã tạo môi trường quốc tế hòa bình, ổn định để xây dựng phát triển đất nước, và bảo vệ vững chắc nhiệm vụ trọng tâm là bảo vệ độc lập chủ quyền của đất nước.

4. Nâng được vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Ví dụ, Việt Nam được bầu vào Hội đồng Bảo an ( thành viên không thường trực) của LHQ, và xử lí rất nhiều vấn đề phức tạp trong 2008-2009 đã nâng vị thế mình lên.

Việt Nam còn tham gia các tổ chức quốc tế, cơ chế  đa phương khác như: ASEAN, chủ trì Hội nghị Cấp cao ASEAN 1998,  Chủ tịch ASEAN2010, rồi có Tổng Thư ký ASEAN. Việt Nam đã tổ chức thành công Hội nghị thượng đỉnh APEC 2006, và sắp tới là APEC 2017. Hay Việt Nam được bầu vào Hội đồng Chấp hành UNESCO, Tổ chức Năng lượng Quốc tế, Ủy ban Nhân quyền LHQ, hay Hội đồng Kinh tế Châu Á – TBD....

Bên cạnh những thành tựu to lớn như vậy, liệu trong 30 năm ĐỔI MỚI ngành đối ngoại có khi nào gặp phải những hạn chế khiến chúng ta bị lỡ bước đi, hoặc đi quá chậm?

Ông Vũ Dương Huân: Thứ nhất, lúc đầu có nhiều vấn đề mình chưa nhận thức ra. Ví dụ, nhận thức giữa lợi ích quốc gia dân tộc và ý thức hệ lùng bùng đến Đại hội XI mới khẳng định được rằng, lợi ích quốc gia dân tộc vừa là mục tiêu vừa là nguyên tắc.

Thứ hai, nhận thức giữa độc lập tự chủ và hội nhập quốc tế cũng bị lùng bùng. Chính Bác Hồ đã nói từ lâu rồi là anh muốn hội nhập thành công, muốn chính sách đối ngoại thành công thì cái gốc vẫn là trong nước, là nội lực. Tức là  trong đó nếu chưa chuẩn bị tốt trong nước thì hội nhập sẽ chưa hiệu quả.

Ví dụ, Hiệp định TTP mình ký tháng Hai vừa rồi, và bây giờ là quá trình phê duyệt văn kiện, mà nhiều doanh nghiệp cũng chưa nắm được, dân cũng chưa nắm được.

Thứ ba, sự phối hợp giữa các bộ ban ngành, đị phương chưa  thật tốt. Bây giờ ngoại giao không chỉ là ngoại giao nhà nước, ngoại giao Đảng, mà còn có ngoại giao quốc hội, ngoại giao nhân dân. Ngoài ngoại giao nhà nước cấp trung ương, còn có ngoại giao của các địa phương, doanh nghiệp, sự phối hợp chưa được ăn ý. Nhiều trường hợp đi nước ngoài chưa đặt cao nhiệm vụ học tập kinh nghiệm.

Thời tôi làm Đại sứ ở Ba Lan và Ucraina, tôi chứng kiến rất nhiều đoàn sang, nhất là dịp cuối năm; Nhiều đoàn đi chồng chéo cũng không có hiệu quả cao, vì giữa các đoàn không có trao đổi lẫn nhau về những kinh nghiệm học được.

Thứ tư, có lúc chúng ta lúng túng trong nội bộ. Ví dụ, BTA Việt –Mỹ đáng nhẽ phải ký sớm hơn, nhưng do nội bộ chưa thống nhất nên lùi lại đến 2000, làm chậm khả năng Việt Nam đàm phán gia nhập WTO, và phải chịu giá cao hơn gấp bội thì ai cũng thấy rồi.

Kỳ 2: Thực hư quan điểm của ông Nguyễn Cơ Thạch về Trung Quốc

 Thùy Vân, Minh Hưng