Chuông Nhật Tảo - vừa được Thủ tướng chính phủ Nguyễn Xuân Phúc công nhận là bảo vật quốc gia hiện đang được lưu giữ tại Di tích đình Nhật Tảo, phường Đông Ngạc, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội.

Theo các cụ cao niên trong Tiểu ban bảo vệ di tích đình Nhật Tảo: Quả chuông vốn là hiện vật của di tích đình làng Nhật Tảo. Những năm 1951-1953, thực dân Pháp chiếm đình Nhật Tảo, làm bốt đóng quân, chúng cho xây 4 lô cốt ở 4 góc đình, sau đó dân làng phải sơ tán toàn bộ đồ thờ tự và đồ tế khí của đình về Văn Chỉ của làng (trong đó có quả chuông). Đến 1994, dân làng tổ chức rước toàn bộ đồ thờ tự và tế khí trở lại đình. Tháng 3 năm 1995, khi làm hồ sơ xếp hạng di tích thì phát hiện ra quả chuông cổ này.

Còn theo các nhà nghiên cứu, năm 1987, Phạm Văn Thắm - cán bộ Viện nghiên cứu Hán Nôm đã tìm thấy quả chuông ở miếu thờ đức thánh Trần, thôn Nhật Tảo, sau đó, quả chuông được đem về cất giữ ở đình làng Nhật Tảo, phường Đông Ngạc, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội.

Chuông Nhật Tảo là cổ vật độc bản, được xem là quả chuông duy nhất ở thế kỷ X cho đến nay, được phát hiện ở Việt Nam. Chuông có hình dáng độc đáo, khác biệt so với hệ thống chuông chùa ở Việt Nam có từ xưa tới nay. Họa tiết trang trí trên thân chuông thể hiện đỉnh cao của nghệ thuật điêu khắc và nghệ thuật đúc đồng thời bấy giờ.

Chuông được đúc theo lối thượng thu hạ thách (trên thon, dưới nở). Quai chuông đúc nổi đôi thú (giống như Ly Thủ) đấu lưng vào nhau, uốn cong tạo thành núm treo chuông. Thú có đầu to, mắt lồi, hai sừng thẳng, bờm ôm sát đầu, thân có vảy, hai chân và miệng ngậm tỳ xuống đỉnh chuông tạo thế vững chắc cho quai chuông. Chỏm quai tạo hình núm tròn dẹt nhô lên nhưng không phải là hồ lô như trên các quai chuông sau này. Đỉnh chuông bằng, vai xuôi, thân hình trụ, miệng loe có gờ, thành chuông dày.

Vì sao chuông Nhật Tảo được coi là bảo vật quốc gia?
Chuông Nhật Tảo

Thân chuông được phân cách bởi 5 đường đúc nổi ngang dọc, tạo thành 8 ô, phần trên là 4 ô hình thang đứng, phần dưới là 4 ô hình chữ nhật. Nằm giữa 5 đường đúc nổi nêu trên là 4 núm gõ (để đánh chuông), núm tròn, tạo hình bông hoa nở, xung quanh có 12 cánh hoa.

Phần trên của mặt ngoài chuông khắc chìm chữ Hán, theo lối chữ chân, còn khá rõ, phủ kín cả 4 ô hình thang và khoảng trống giữa những đường đúc dọc (gồm 27 cột, 211 chữ). T

Dịch những chữ Hán khắc trên chuông Nhật Tảo (bài minh) có thể coi là một trong những sử liệu chữ viết sớm nhất của thời kỳ tự chủ từ thế kỷ X mà ta hiện biết. Nó cung cấp cho chúng ta những thông tin vô cùng quý báu về một thời kỳ mà sử liệu thành văn của nước ta không có nhiều.

Trước hết, về thời gian và địa điểm trên chuông. Bài minh dược viết năm Càn Hòa thứ 6 (năm 948). Theo các nhà nhiên cứu, Càn Hòa là niên hiệu của Lưu Thạnh, vua nước Nam Hán, một nước thời Ngũ Đại Thập Quốc, đóng đô ở Quảng Châu.

Tuy nhiên, đây là chuông Việt Nam, không phải chuông Trung Quốc, vì tên địa danh ghi ở bài minh đã xác nhận điều đó. Trong bài minh có nhắc đến năm Giáp Thìn, tức năm 944, là năm Ngô Quyền mất. Chúng ta đều biết, sau đó Dương Tam Kha đã cướp ngôi vua, xưng là Bình Vương. Năm 948 là năm Dương Tam Kha đã ở ngôi vua được 4 năm.

 

Như vậy, ta có thể biết, tuy Ngô Quyền đã giành lại nền độc lập, xưng vương, nhưng vẫn chưa có niên hiệu. Cho nên, để ghi năm tháng cho các văn bản trong nước ta thời đó, người ta phải dùng niên hiệu của Nam Hán, dù rằng, đạo quân xâm lược của nước này đã bị Ngô Quyền đánh bại ở sông Bạch Đằng năm 938.

Nội dung minh văn có nhắc đến địa danh hành chính vào thế kỷ X vẫn được giữ lại từ thế kỷ VII-VIII như: huyện Giao Chỉ. Đặc biệt, bài minh trên chuông cho ta biết một tên thôn là “Hạ Từ Liêm” ở huyện Giao Chỉ năm 948.

Theo các nhà nghiên cứu, tên “Từ Liêm” đã xuất hiện từ sớm. Sách “Nguyên Hòa quận chí” còn nhắc đến sông Từ Liêm. Theo sách “Cựu Đường thư”, năm 621, đã tách một phần huyện Giao Chỉ, lập huyện Từ Liêm, nhưng sau đó thì bỏ, nhập vào huyện Giao Chỉ. Nhưng rõ ràng là “thôn Hạ Từ Liêm” là ở trong huyện Từ Liêm thời thuộc Đường và quả chuông Nhật Tảo này, bài minh cũng nhắc tới huyện Từ Liêm. Như vậy, có thể thấy rằng, hiện tại, quả chuông không rời quá xa “thôn Hạ Từ Liêm” được viết trong bài minh. Đồng thời, cũng qua đây, chúng ta có thể khẳng định một cách chắc chắn có sự tồn tại của đơn vị hành chính “thôn” ở nước ta rất sớm, từ thế kỷ X.

Bên cạnh đó, nội dung bài minh chuông Nhật Tảo còn đề cập đến công việc của một tổ chức tôn giáo thời bấy giờ gọi là “xã”. Ta đã gặp một “xã” như vậy trên chuông Thanh Mai (thế kỷ thứ VIII, 798), tên là “Tùy Hỉ xã”, còn xã trên chuông Nhật Tảo thì không thấy chép rõ tên. Có nhiều chức danh giống nhau giữa hai chuông như: “xã chủ, xã phó, xã phán quan, xã lục sự”. Cũng có những chức danh chỉ thấy trên chuông Thanh Mai, không thấy trên chuông Nhật Tảo, như: “xã Chi Khiển, xã Bình Chính, xã Khổng Mục…”.

Điều khác nhau quan trọng là “xã” trên chuông Thanh Mai là một “xã Phật giáo”, còn “xã” trên chuông Nhật Tảo là một “xã Đạo giáo”. Tất cả những người trong xã này đều coi là “đệ tử của Vô pháp môn”. Tên của những người trong “xã” không phải là tên húy, mà chỉ là đạo hiệu hay pháp danh. Những pháp danh này thường bắt đầu bằng các từ Pháp, Huyền, Tiên, Đạo, như Đỗ Pháp Dao, Trần Pháp Tuyên, Kim Huyền Ký, Lý Huyền Tháo, Trần Tiên Cao, Đỗ Tiên Liêu, Ngu Tiên Hựu…Những cái tên như vậy cho thấy những người đó là tín đồ Đạo giáo, nhất là những cái tên được đệm bằng các từ Huyền và Tiên (vì mục đích tu của Đạo giáo là thành tiên). Khác với Phật giáo (những nhà sư thường coi mình mang họ Thích, họ của Thích ca), những người theo Đạo giáo bao giờ cũng giữ lại họ của mình.

Ngoài ra, bài minh trên quả chuông Nhật Tảo còn cho chúng ta biết các chức danh trong Đạo giáo như: “Cao công”, hay hai lần nhắc đến việc “trai khánh”. Cũng qua bài minh này, chúng ta biết rằng, vào thế kỷ X ở nước ta, đã có sự song hành, hỗn dung giữa Đạo giáo và Phật giáo, khi chúng ta gặp các từ ngữ của Phật giáo như: “tứ ân”, “thiện duyên”, “lục căn”, “tam diệp” (tức “tam nghiệp”)…. Như vậy, Đạo giáo vốn được nuôi dưỡng trong đời sống tín ngưỡng cộng đồng, đến thế kỷ X, bắt đầu dung hợp với Phật giáo để tạo nên một sắc thái riêng trong đời sống xã hội. Đồng thời, cũng qua bài minh trên quả chuông Nhật Tảo, cho chúng ta biết rõ hơn về Đạo giáo trong thế kỷ X.

Qua bố cục bài minh văn và tự dạng, ta biết được văn bản được khắc cùng một thời điểm và là văn bản khắc lần đầu. Hoàn toàn không có hiện tượng khắc lại hoặc khắc thêm xen kẽ về sau. Niên đại của văn bản khắc trên thân chuông và niên đại của chuông là một, hoàn toàn phù hợp với dòng lạc khoản tuyệt đối trên chuông là: ngày 29 tháng Tư năm Mậu Thân niên hiệu Càn Hòa thứ 6 (tức ngày 9 tháng 6 năm 948).

Tình Lê

Chuông có bản minh văn rất cụ thể, là nguồn sử liệu chân thực, ý nghĩa đối với việc nghiên cứu, tìm hiểu xã hội người Việt thời tự chủ. Hơn thế nữa, quả chuông và minh văn năm 948 là sử liệu vô cùng quan trọng và quý giá, giúp chúng ta tìm hiểu nhiều vấn đề lịch sử làng xã, tôn giáo, đặc biệt là Đạo giáo trong đời sống tâm linh của người Việt ở thế kỷ X. Cũng qua bài minh, cho chúng ta biết đây là tài liệu hiện vật đầu tiên và duy nhất được biết cho tới nay thể hiện mối quan hệ song hành giữa Đạo giáo và Phật giáo, làm cơ sở cho sự hình thành tư tưởng Đạo - Phật - Nho cùng đồng hành trong đời sống tâm linh của người Việt vào thời Lý - Trần.

Minh văn trên quả chuông còn cho chúng ta biết đến một tổ chức hành chính xã - thôn - huyện xuất hiện ở nước ta khá sớm (xã ở đây vừa là một tổ chức tôn giáo, đồng thời là một đơn vị hành chính), cùng với đó là những chức danh Đạo giáo ở nước ta vào thế kỷ thứ X.

Chuông Nhật Tảo là một cổ vật vô giá của Thăng Long - Hà Nội nói riêng, Việt Nam nói chung. Chuông đã được giới thiệu trong nhiều công trình nghiên cứu khoa học về văn hóa, lịch sử ở Việt Nam. Với những giá trị đặc biệt tiêu biểu đã nói trên, Chuông Nhật Tảo xứng đáng được Thủ tướng Chính phủ công nhận là bảo vật quốc gia.