Toàn văn phát biểu của Bộ trưởng Bộ TT&TT Nguyễn Mạnh Hùng về 5G

Năm 1990, thế giới xuất hiện công nghệ 2G, thì chỉ 3 năm sau, năm 1993, Việt Nam đã khai trương mạng điện thoại di động công nghệ số 2G. Năm 2000, thế giới xuất hiện công nghệ 3G, nhưng phải đến năm 2010, tức là 10 năm sau, thì cả 3 nhà mạng lớn nhất mới khai trương mạng điện thoại di động 3G. Và đến khi 4G xuất hiện thì câu chuyện cũng gần tương tự như vậy. Đến nay, năm 2018, tức là 8 năm sau khi thế giới xuất hiện công nghệ 4G thì chúng ta vẫn chưa cấp được tần số mới để làm 4G, mạng 4G mà các nhà mạng khai trương năm 2017 là do dồn dịch tần số 2G. Và kết quả là gì, với sự sớm chấp nhận công nghệ 2G và sự thúc đẩy cạnh tranh, mạng di động Việt Nam đã từng vào top 20 thế giới, nhưng khi chuyển sang công nghệ 3G, 4G, vì sự đi sau về công nghệ và thiếu nhân tố cạnh tranh mới mà viễn thông của Việt Nam chúng ta đang xếp ở hạng thứ 100, thí dụ về mật độ thuê bao di động băng rộng, năm 2017 ITU xếp Việt Nam đứng thứ 115/193, tức là dưới trung bình của thế giới.

Công nghệ 5G đang tới, đây là cơ hội để Việt Nam chúng ta thay đổi thứ hạng. Muốn thay đổi thứ hạng thì phải đi đầu. Chưa đi đầu được trên phạm vi toàn quốc thì đi đầu ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Bộ TTTT chủ trương cấp tần số 5G để thử nghiệm từ 2019, và đến năm 2020, khi thế giới bắt đầu triển khai 5G thì Việt Nam cũng sẽ là những nước đầu tiên triển khai 5G.

Thiết bị mạng 2G và 3G là 100% nhập ngoại. Khi triển khai 4G thì lần đầu tiên chúng ta có thiết bị 4G Việt Nam, nhưng cũng là 8 năm sau khi công nghệ 4G xuất hiện. Với 5G, chúng ta sẽ có thiết bị ngay từ ngày đầu triển khai chính thức năm 2020. Đây sẽ là sự thay đổi lớn nhất, sự thay đổi ý nghĩa nhất, và cũng là sự chuyển đổi về chất lớn nhất trong ngành công nghiệp điện tử viễn thông nước nhà. Bộ TTTT khích lệ và tạo mọi điều kiện để các doanh nghiệp công nghệ Việt Nam, cả nhà nước và tư nhân, cả to và nhỏ, nghiên cứu sản xuất được thiết bị viễn thông, kể cả thiết bị mạng và thiết bị đầu cuối, để lần đầu tiên trong lịch sử nước nhà, mạng viễn thông Việt Nam được xây lên bởi thiết bị Việt Nam. Việt Nam cũng phải trở thành nước thứ 5 trên thế giới xuất khẩu được thiết bị viễn thông Made in Viet Nam, bao gồm tất cả thiết bị mạng và đầu cuối.

 

Công nghệ 2G là công nghệ điện thoại thuần tuý. Công nghệ 3G là nửa điện thoại, nửa data. Công nghệ 4G là thuần tuý data, nhưng là cho người với người. Công nghệ 5G là công nghệ data, nhưng là công nghệ đầu tiên được thiết kế cho kết nối vạn vật, với một loạt tính năng mới, như độ trễ thấp, tiêu thụ nguồn nhỏ. Công nghệ 5G sẽ tạo ra một cuộc cách mạng về kết nối. 2G/3G/4G kết nối 7 tỷ người thì 5G sẽ kết nối hàng ngàn tỷ thiết bị, chuyển tải toàn bộ thế giới vật lý vào thế giới ảo. Và thay đổi cơ bản cuộc sống loài người. Đây là sứ mạng của 5G, và sứ mạng ấy đặt lên vai ngành ICT Việt Nam, đặt lên vai những người đang ngồi đây ngày hôm nay.

Kết nối vạn vật sẽ yêu cầu một đầu tư hoàn toàn khác so với mạng điện thoại di động dành cho kết nối chỉ con người với nhau. Các nhà mạng di động phải nhận thức được trách nhiệm của mình đối với đất nước, đối với dân tộc. Mạng 5G là hạ tầng cho kết nối vạn vật - hạ tầng quan trọng nhất của CMCN 4.0. Việt Nam muốn đi đầu trong CMCN 4.0 thì mạng 5G phải đi trước cả đi đầu. Mạng lưới phải có trước, hạ tầng kết nối phải có trước. Đầu tư trước kinh doanh sau, đây phải là triết lý kinh doanh của tất cả các nhà mạng. Mạng 5G cho kết nối vạn vật của Việt Nam phải vào loại tốt nhất trên thế giới. Số lượng trạm BTS cho 5G sẽ phải lớn hơn rất nhiều so với các công nghệ trước đó. Do vậy, dùng chung hạ tầng, chia sẻ hạ tầng viễn thông với các hạ tầng điện, nước, giao thông là rất quan trọng để giảm chi phí xã hội.

5G không chỉ là cơ hội về dịch vụ kết nối, cơ hội để thay đổi thứ hạng viễn thông Việt Nam, mà còn là cơ hội để phát triển ngành công nghiệp ICT nước nhà. Với nhu cầu rất lớn về thiết bị mạng lưới, và đặc biệt lớn về thiết bị đầu cuối, nhu cầu mang tính quyết định của an toàn, an ninh mạng, nhu cầu toàn dân về ứng dụng, sẽ tạo ra thị trường vô hạn cho các Cty công nghệ Việt Nam. Chúng ta hãy coi Việt Nam là cái nôi để phát triển công nghệ và sản phẩm để từ đây đi ra chinh phục thế giới. Cơ hội này rơi lên thế hệ chúng ta. Và chúng ta phải coi đây là trách nhiệm lịch sử của mình đối với dân tộc.

Thị trường viễn thông Việt Nam cũng cần những nhân tố cạnh tranh mới để thúc đẩy phát triển, để có những đột phá mới về phát triển thuê bao băng rộng, để đến 2020 đạt mật độ thuê bao di động băng rộng 100%; về cơ cấu dịch vụ, để thoại và nhắn tin chỉ còn chiếm dưới 30% tổng doanh thu; về tiêu dùng dữ liệu trên đầu người, để Việt Nam vào Top 30-50 trên thế giới; về chuyển đổi số, để các nhà mạng phải là những Công ty đầu tiên thực hiện chuyển đổi số triệt để; về CMCN 4.0, để các nhà mạng phải là người ứng dụng đầu tiên, hiệu quả các công nghệ AI, Big Data, IoT; về đổi mới sáng tạo, để các nhà mạng phát triển các X-Tech, như FinTech, AgriTech, EduTech, nhằm tạo ra những sự thay đổi lớn của các ngành.

Về chính sách viễn thông, chính sách ICT, chính sách cho CMCN 4.0, chúng ta phải đi đầu để thu hút con người, công nghệ, sản phẩm của cả thế giới về với chúng ta, và vì thế, Việt Nam sẽ trở thành trung tâm của thế giới. Chính phủ đã giao Bộ TTTT hợp tác với Diễn đàn Kinh tế Thế giới thiết lập một Trung tâm làm chính sách cho các công nghệ mới của cuộc CMCN 4.0, cũng như các mô hình kinh doanh mới. Tại diễn đàn này, tôi kêu gọi các chuyên gia, học giả, doanh nghiệp, nhà tư vấn, hiệp hội, người dân hãy hợp tác với Bộ TTTT trong Trung tâm này để hình thành các chính sách một cách kịp thời, phù hợp với sự phát triển, giúp Việt Nam đi đầu trong công nghệ mới, mà đầu tiên là công nghệ 5G mà hôm nay chúng ta đang bàn thảo./.