Đến giữa năm 1944, Mỹ chiếm được một số đảo quan trọng làm căn cứ cho máy bay ném bom B-29 xuất phát tấn công các đảo chính của Nhật Bản.

Trong tình hình đó, Mỹ quyết định mở cuộc tấn công vào Philippines nhằm cắt đứt tuyến vận tải biển chiến lược của Nhật Bản qua vịnh Leyte. Việc đánh bật lực lượng Nhật tại đây sẽ là chìa khóa để cô lập các quốc gia mà Nhật chiếm đóng và cắt huyết mạch của nền công nghiệp quốc phòng xứ sở Mặt trời mọc.

Trận hải chiến lớn nhất lịch sử
Trận hải chiến vịnh Leyte đã trở thành trận đánh hải quân lớn nhất chiến tranh Thế giới thứ 2 cũng như trong lịch sử hải chiến của nhân loại. Ảnh: BI

Để phục vụ cho cuộc tấn công vào Philippines, hải quân Mỹ đã huy động hạm đội 3 và hạm đội 7. Hạm đội 3 do Đô đốc William F. Halsey Jr chỉ huy phối hợp với Lực lượng đặc nhiệm 38 (TF-38) hạm đội Thái Bình Dương, có nhiệm vụ hỗ trợ hỏa lực từ xa và ngăn chặn hải quân Nhật. Hạm đội 7 (có sự đóng góp của một số tàu chiến hải quân Hoàng gia Australia) do Phó đô đốc Thomas C. Kinkaid chỉ huy, chịu trách nhiệm đổ bộ và chi viện hỏa lực gần bờ cho lực lượng lục quân của tướng MacArthur đổ bộ ở bờ đông vịnh Leyte để đánh chiếm miền trung Philippines.

Cả 2 hạm đội, tổng số tàu chiến các loại lên đến 800 chiếc, trong đó có 8 tàu sân bay cỡ lớn, 8 tàu sân bay hạng nhẹ, 18 tàu tuần dương hộ tống, 12 thiết giáp hạm, 24 tuần dương hạm, 166 tàu khu trục và hơn 1.500 máy bay chiến đấu.

Phía Nhật Bản đã huy động gần như toàn bộ lực lượng để bảo vệ Philippines, với gần 70 tàu chiến các loại trong đó có 3 tàu sân bay hạng nặng, 3 tàu sân bay hạng nhẹ, 9 thiết giáp hạm trong đó có hai thiết giáp hạm Yamato và Mushashi lớn nhất và mạnh nhất thế giới lúc đó, 14 tàu tuần dương hạng nặng, 6 tuần dương hạm hạng nhẹ, 35 tàu khu trục, 300 máy bay các loại...

Để chuẩn bị cho trận hải chiến quyết định, từ ngày 12/10/1944, hạm đội 3 Mỹ triển khai tấn công các sân bay Nhật ở Đài Loan và quần đảo Ryukyu nhằm tiêu diệt lực lượng không quân Nhật Bản tại đây, dọn đường cho cuộc đổ bộ vào Leyte. Nhật liền tấn công vào hạm đội 3, chiến dịch này kéo dài đến ngày 16/10 với chiến thắng của quân Mỹ.

Hai ngày sau đó, lực lượng Mỹ chiếm đảo Homonhon và Dinagat, mở đường tiến vào vịnh Leyte. Phía Nhật Bản, Phó đô đốc Jisaburo Ozawa chỉ huy một nhóm tàu tấn công phía bắc làm nhiệm vụ thu hút lực lượng Mỹ ra khỏi vịnh Leyte. Trong khi đó, nhóm tàu chiến ở phía nam do Phó đô đốc Shoji Nishimura chỉ huy tấn công vào khu vực eo biển Surigao, còn mũi tấn công ở giữa do Phó đô đốc Takeo Kurita chỉ huy đột kích qua eo biển San Bernardino.

 

Ngày 20/10/1944, hải quân Mỹ bắt đầu đổ bộ lên đảo Leyte. Cuộc chạm trán giữa hải quân đôi bên lên đến đỉnh điểm của sự ác liệt, với quy mô chưa từng có kéo dài từ ngày 23 đến ngày 26/10/1944.

Ngày 23/10, hải quân Mỹ sử dụng tàu ngầm đánh đắm hai tàu tuần dương Nhật thuộc quyền chỉ huy của Phó đô đốc Kurita; tàu tuần dương thứ ba hư hỏng nặng và phải trở về Brunei. Sáng 24/10, Nhật phản công, sử dụng 200 máy bay cất cánh trên đảo Luzon, vô hiệu hóa tàu sân bay hạng nhẹ Princeton. Tàu sân bay của Phó đô đốc Ozawa dùng hai phần ba máy bay tấn công hạm đội 3 Mỹ nhưng không thành công. Ở phía nam, tàu chiến Nhật tấn công hạm đội 7 Mỹ nhưng cũng thất bại, thậm chí còn mất 70 máy bay.

Ngày 25/10, không quân Mỹ đánh chìm toàn bộ 4 tàu sân bay Nhật do Phó đô đốc Ozawa chỉ huy. Trong khi đó ở phía nam, Phó đô đốc Nishimura để mất gần như toàn bộ tàu chiến, chỉ còn một tàu khu trục quay trở về. Tuy nhiên, ở khu vực trung tâm, hạm đội Nhật do Phó đô đốc Kurita chỉ huy đã đánh chìm tàu sân bay hộ tống Gambier Bay và 3 tàu khác của hải quân Mỹ. Lực lượng Nhật cũng tổn thất 3 tàu tuần dương và 1 chiếc bị hư hại nặng. Suốt cả ngày 25/10, Phó đô đốc Kurita cố gắng truy đuổi hạm đội Mỹ trong vô vọng và chấp nhận bỏ cuộc vào lúc 6 giờ chiều.

Chống đỡ thành công đợt tấn công của Nhật, hải quân Mỹ đồng loạt phản công, 5 đợt không kích suốt từ sáng đến chiều đã đánh chìm thiết giáp hạm Musashi, một trong hai niềm kiêu hãnh của hải quân Nhật. Đến ngày 26/10, trận chiến vịnh Leyte kết thúc khi hạm đội 3 Mỹ truy đuổi và đánh chìm được một tàu tuần dương Nhật trong khi đang rút chạy.

Kết thúc trận chiến, hải quân Nhật thiệt hại nặng nề, tổn thất 1 tàu sân bay hạng nặng, 3 tàu sân bay hạng nhẹ, 3 thiết giáp hạm, 10 tàu tuần dương, 11 tàu khu trục, 300 máy bay, 12.500 người thiệt mạng hoặc bị thương. Tổng cộng 300.000 tấn sắt thép chìm xuống biển. Hải quân Mỹ có lực lượng tàu chiến gấp 11,4 lần, số máy bay gấp 2,5 lần, nhưng cũng chịu tổn thất không hề nhỏ: 1 tàu sân bay hạng nhẹ, 2 tàu sân bay hộ tống, 3 tàu khu trục, 4 tàu chiến khác của Mỹ và Australia bị hư hỏng nặng, 200 máy bay bị bắn hạ, hơn 2.800 người thiệt mạng và bị thương.

Hải chiến vịnh Leyte đã trở thành trận đánh hải quân lớn nhất Chiến tranh Thế giới thứ 2. Thiệt hại quá lớn cùng với sự sụt giảm nghiêm trọng về sản xuất quốc phòng do thiếu nguyên liệu sản xuất dẫn đến hạm đội Liên hợp Nhật Bản và quân đội Nhật Bản dần mất sức chiến đấu rồi bị đánh bại hoàn toàn. Hải quân Mỹ từ đây có thể tiến thẳng đến Nhật Bản mà không gặp phải bất cứ sự phản kháng đáng kể nào trên biển.

Nguyên Phong

Ngày này năm xưa: Trận đánh dữ dội, 4 mẫu hạm Nhật chìm nghỉm

Trận đánh dữ dội, 4 mẫu hạm Nhật chìm nghỉm

Trận đánh Mũi Engano ngày 25/10/1944 mang lại chiến thắng lớn cho Mỹ, với Hạm đội 3 của Đô đốc Halsey đánh chìm 4 tàu sân bay Nhật trên biển Philippines.