Ngày 5/11/2020, Chính phủ đã ký ban hành Nghị định số 132/2020/NĐ-cP quy định về quản lý thuế đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết (thay thế Nghị định số 20/2017/NĐ-CP ngày 24/02/2017).

Tại cuộc họp báo chiều 9/11, ông Đặng Ngọc Minh, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế, cho biết: Quy định về khống chế chi phí lãi vay lần đầu được áp dụng tại Việt Nam nên không tránh khỏi những khó khăn. Nguyên nhân chính là do doanh nghiệp Việt Nam có vốn mỏng, chủ yếu là vốn vay, vốn chủ sở hữu thấp. Vì vậy, ngày 24/6/2020 Chính phủ đã ban hành Nghị định 68/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 8 Nghị định 20 để tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp.

Theo đó, nâng mức khống chế chi phí lãi vay từ 20% lên 30%; cho phép khống chế chi phí lãi vay sau khi đã trừ lãi tiền gửi, tiền vay và mở rộng đối tượng được miễn áp dụng quy định khống chế. Về hiệu lực thi hành: quy định tại Nghị định 68/2020/NĐ-CP được áp dụng ngay trong kỳ tính thuế năm 2019.

Khống chế chi phí lãi vay được trừ, Tổng cục Thuế nói gì?
Tổng cục Thuế muốn chống chuyển giá, hạn chế vốn mỏng.

“Quy định về khống chế lãi vay được trừ theo Nghị định 68 đã cơ bản khắc phục những nhược điểm của Nghị định 20”, lãnh đạo Tổng cục Thuế nói. “Quy định hồi tố năm 2017, 2018 đối với nội dung nâng ngưỡng khống chế chi phí lãi vay từ 20% lên 30% đồng thời cho bù trừ với lãi tiền gửi, tiền cho vay dự kiến số thuế phải hoàn hoặc khấu trừ khoảng 4.785 tỷ đồng”.

Ông Đặng Ngọc Minh cũng cho biết Nghị định 132 mở rộng đối tượng loại trừ áp dụng quy định giới hạn chi phí lãi vay được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp.

 

Cụ thể, tại Nghị định số 20, đối tượng loại trừ áp dụng quy định giới hạn chi phí lãi vay chỉ có tổ chức tín dụng và tổ chức kinh doanh bảo hiểm. Nghị định 132/2020/NĐ-CP mở rộng thêm đối tượng loại trừ đó là các khoản vay vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), vay ưu đãi của Chính phủ thực hiện theo phương thức Chính phủ đi vay nước ngoài cho các doanh nghiệp vay lại; các khoản vay thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia (chương trình nông thôn mới và giảm nghèo bền vững); các khoản vay đầu tư chương trình, dự án thực hiện chính sách phúc lợi xã hội của Nhà nước (nhà ở tái định cư, nhà ở công nhân, sinh viên, nhà ở xã hội và dự án phúc lợi công cộng khác).

Theo lãnh đạo Tổng cục Thuế, thống kê của cơ quan thuế cho thấy cả nước có 16.500 doanh nghiệp có quan hệ liên kết. Trong đó, số doanh nghiệp có giao dịch liên kết là khoảng 8.000. Trong số này, doanh nghiệp FDI chiếm 83%. Như vậy, số đông các giao dịch liên kết là đến từ các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Đại diện Tổng cục Thuế cho hay: “Quan hệ liên kết ở đây không phân biệt doanh nghiệp liên kết với nước ngoài hay doanh nghiệp trong nước. Các nước khi ban hành quan hệ về giao dịch liên kết đều đảm bảo nguyên tắc đó. Các doanh nghiệp của chúng ta vươn ra đầu tư ở nước ngoài, có công ty liên kết ở nước ngoài thì cũng phải tuân thủ quy định về giao dịch liên kết”.

Lãnh đạo Tổng cục Thuế khẳng định việc chuyển giá, chuyển lợi nhuận không chỉ diễn ra ở khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, mà xuất hiện ở các doanh nghiệp trong nước. Có hiện tượng chuyển lợi nhuận từ doanh nghiệp, địa bàn có thuế suất cao sang doanh nghiệp, địa bàn có thuế suất thấp; chuyển lợi nhuận từ doanh nghiệp có lãi sang doanh nghiệp lỗ.

“Cho nên, chúng ta phải ưu đãi cho đúng pháp nhân, địa bàn, đúng lĩnh vực, không thể vì các quan hệ liên kết của các doanh nghiệp mà áp dụng không đúng chính sách của nhà nước”, ông Đặng Ngọc Minh nhấn mạnh và cho rằng, pháp luật quy định không phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế cho nên Nghị định về giao dịch liên kết áp dụng chung cho toàn bộ các doanh nghiệp, không phân biệt doanh nghiệp FDI hay doanh nghiệp "nội".

L.Bằng