Dự thảo này quy định rõ mức khoán kinh phí sử dụng xe ô tô theo từng công đoạn sử dụng.

Cơ quan quản lý xe tự xác định khoảng cách

Dự thảo quy định rõ mức khoán kinh phí sử dụng xe ô tô theo từng công đoạn sử dụng. Cụ thể, mức khoán kinh phí sử dụng xe ô tô đối với công đoạn đưa, đón từ nơi ở đến cơ quan và ngược lại được xác định theo 2 hình thức là khoán theo km thực tế và khoán gọn.

Nếu xác định theo km thực tế, mức khoán mỗi tháng sẽ bằng số km từ nơi ở đến cơ quan nhân lên 2 lần rồi nhân với số ngày làm việc thực tế trong tháng và nhân với đơn giá khoán. Trong đó: Số km từ nơi ở đến cơ quan là khoảng cách thực tế ngắn nhất từ nơi ở đến cơ quan và ngược lại của chức danh; 2 lần bao gồm 1 lần đi và 1 lần về trong một ngày làm việc; số ngày làm việc thực tế trong tháng là số ngày người nhận khoán thực tế làm việc tại cơ quan.

Nếu lựa chọn hình thức khoán gọn thì mức khoán bằng số km bình quân từ nơi ở đến cơ quan nhân 2 lần nhân số ngày đưa đón bình quân hàng tháng nhân với đơn giá khoán. Trong đó: Số km bình quân từ nơi ở đến cơ quan từ nơi ở đến cơ quan mà xe ô tô lưu thông được được tính theo tổng số km thực tế ngắn nhất từ nơi ở đến cơ quan của tất cả các chức danh chia cho tổng số chức danh thuộc đối tượng khoán; 2 lần bao gồm 1 lần đi và 1 lần về trong một ngày làm việc; số ngày đưa đón bình quân hàng tháng (ngày/tháng).

Xe công,khoán xe công,ô tô công
Mức khoán kinh phí sử dụng xe ô tô công đều được xác định theo 2 hình thức là khoán theo km thực tế và khoán gọn.

Với công đoạn đi công tác, cơ quan, người có thẩm quyền quyết định khoán kinh phí sử dụng xe ô tô quy định áp dụng khoán cho toàn bộ công đoạn đi công tác hoặc từng công đoạn (ví dụ: khoán khi đi công tác trong nội tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; khoán đi công tác trên địa bàn của huyện,...).

Mức khoán kinh phí đối với công đoạn đi công tác cũng được xác định bằng 2 hình thức. Một là khoán theo km thực tế với mức khoán bằng số km thực tế của từng lần đi công tác nhân với đơn giá khoán. Hai là khoán gọn với mức khoán bằng số km đi công tác bình quân hàng tháng nhân với đơn giá khoán và chỉ áp dụng trong trường hợp đi công tác thường xuyên trong tháng.

 

Cũng liên quan đến nội dung khoán xe ô tô, Bộ Tài chính đề xuất quy định: Cơ quan, đơn vị quản lý tài chính, tài sản được giao làm đầu mối tổ chức thực hiện khoán kính phí sử dụng xe ô tô thực hiện xác định số km từ nơi ở đến cơ quan, số ngày làm việc thực tế trong tháng của từng chức danh nhận khoán; xác định khoảng cách bình quân từ nơi ở đến cơ quan, số ngày đưa đón bình quân hàng tháng của các chức danh có tiêu chuẩn đưa đón từ nơi ở đến cơ quan và ngược lại; xác định số km thực tế của từng lần đi công tác của từng chức danh nhận khoán; xác định số km đi công tác bình quân hàng tháng của chức danh nhận khoán.

Lấy ý kiến khi mua xe ô tô cho dự án

Dự thảo Thông tư của Bộ Tài chính cũng đưa ra một điều khoản quy định việc lấy ý kiến cơ quan tài chính nhà nước khi mua xe ô tô phục vụ dự án viện trợ không hoàn lại của nước ngoài.

Theo đó, đối với dự án viện trợ không hoàn lại của nước ngoài, việc mua sắm xe ô tô phục vụ hoạt động của từng dự án thực hiện theo quy định của hiệp định đã được ký kết hoặc văn kiện dự án đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.

Khi đàm phán để ký kết văn kiện dự án viện trợ không hoàn lại mà nhà tài trợ yêu cầu phải mua sắm xe ô tô phục vụ hoạt động của dự án thì ngoài việc tuân thủ quy định về trình tự, thủ tục ký kết, gia nhập và thực hiện Điều ước quốc tế (thỏa thuận quốc tế); cơ quan, đơn vị được giao nhiệm vụ chủ trì lấy ý kiến của Bộ Tài chính (đối với dự án do cơ quan trung ương thực hiện) hoặc Sở Tài chính (đối với dự án do cơ quan địa phương thực hiện) trước khi trình cấp có thẩm quyền phê duyệt chủ trương tiếp nhận dự án.

Dự thảo thông tư đang được xin ý kiến rộng rãi trước khi được Bộ Tài chính ký ban hành và dự kiến thay thế Thông tư số 159/2015/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn một số điều của Quyết định số 32/2015/QĐ-TTg  của Thủ tướng Chính phủ quy định tiêu chuẩn, định mức và chế độ quản lý, sử dụng xe ô tô trong cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ.

(Theo Báo Hải quan)