Bộ Công Thương vừa có báo cáo gửi QH về kết quả thực hiện các nghị quyết từ đầu nhiệm kỳ đến hết kỳ họp thứ 8, trong đó đề cập nhiều vấn đề về phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam đến năm 2025, định hướng 2035.

Báo cáo cho thấy bức tranh ngành sản xuất, lắp ráp ôtô trong nước hiện ra khá rõ nét: Hiện Việt Nam có nhiều dự án sản xuất, lắp ráp ôtô quy mô lớn với mục tiêu không chỉ đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn hướng tới thị trường khu vực. Nhờ đó, tương quan về sản lượng giữa xe lắp ráp, sản xuất trong nước và nhập khẩu trong ngắn, trung hạn sẽ thay đổi theo hướng tăng về số lượng xe nội địa.

Tuy nhiên, lợi thế trên đang mất dần do lượng xe nhập khẩu ngày càng tăng, như năm 2019 xe nhập về Việt Nam đã tăng 70% so với 2018, chủ yếu từ các nước trong khu vực ASEAN.Theo Bộ Công Thương, hạn chế của ngành sản xuất ôtô nội địa là Việt Nam chưa làm chủ được các công nghệ cốt lõi như động cơ, hệ thống điều khiển, hệ thống truyền động. Với các sản phẩm đã được nội địa hóa thì mang hàm lượng công nghệ thấp như: săm, lốp ôtô, ghế ngồi, gương, khung vỏ, kính, bộ dây điện, ắc-quy, sản phẩm nhựa...

CNHT ngành ô tô: Trong nước mới sản xuất được săm, lốp
Với các sản phẩm đã được nội địa hóa thì mang hàm lượng công nghệ thấp như: săm, lốp ôtô, ghế ngồi, gương, khung vỏ, kính, bộ dây điện, ắc-quy, sản phẩm nhựa...

Đến nay ngành công nghiệp ô tô của Việt Nam chỉ tham gia vào phân khúc thấp của chuỗi giá trị ngành ô tô, phụ thuộc lớn vào sự phân công sản xuất của các tập đoàn ô tô toàn cầu, chưa làm chủ được các công nghệ cốt lõi như động cơ, hệ thống điều khiển, hệ thống truyền động.

Ngành sản xuất, lắp ráp ô tô trong nước chưa tạo được sự hợp tác, liên kết và chuyên môn hoá giữa các doanh nghiệp trong sản xuất, lắp ráp ô tô và sản xuất phụ tùng linh kiện; chưa hình thành được hệ thống các nhà cung cấp nguyên vật liệu và sản xuất linh kiện quy mô lớn. Trong khi đó, giá bán xe ô tô trong nước vẫn cao so với các nước trong khu vực.

Báo cáo cũng cho biết, tỷ lệ nội địa hoá đối với xe cá nhân đến 9 chỗ ngồi còn thấp hơn mục tiêu đề ra và thấp hơn nhiều so với các quốc gia trong khu vực. Các sản phẩm đã được nội địa hóa còn mang hàm lượng công nghệ thấp như: Săm, lốp ô tô, ghế ngồi, gương, kính, bộ dây điện, ắc-quy, sản phẩm nhựa.

 

Ngoài ra, giá bán cao so với các nước trong khu vực. Hiện chi phí sản xuất mặt hàng này cao hơn 10-20% khiến giá thành xe nội chịu nhiều bất lợi so với xe nhập nguyên chiếc từ ASEAN khi các hàng rào thuế quan đã gỡ bỏ. "Do quy mô sản xuất nhỏ, cùng với ngành công nghiệp hỗ trợ trong nước kém phát triển, giá thành ô tô sản xuất trong nước cao".

Bộ Công Thương cũng cho rằng, ngành ôtô đến nay vẫn kém phát triển do Việt Nam là quốc gia có xuất phát điểm thấp, ngành công nghiệp đi sau các nước trong khu vực 2-3 thế hệ. Chúng ta cũng chưa có hệ sinh thái công nghiệp để tạo môi trường thuận lợi cho ngành này; dung lượng thị trường với ngành ôtô còn nhỏ, chưa đảm bảo tính kinh tế trong việc đầu tư sản xuất.

Bên cạnh đó, trình độ doanh nghiệp cũng như nguồn nhân lực ngành ôtô còn thấp; công tác nghiên cứu, phát triển chưa được quan tâm; công nghiệp hỗ trợ chưa phát triển dẫn đến không tự chủ được các vật liệu cơ bản cũng như các linh phụ kiện đầu vào cho ngành. 

Để phát triển ngành ôtô trong nước cũng như nâng tỷ lệ nội địa hoá, hạ giá thành sản phẩm, Bộ Công Thương kiến nghị Chính phủ, Quốc hội sớm thống nhất phương án sửa đổi quy định của Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt với ôtô, trong đó giảm thuế tiêu thụ đặc biệt cho phần giá trị sản xuất được trong nước.

Việc này sẽ khắc phục bất lợi về giá giữa xe sản xuất, lắp ráp trong nước và nhập khẩu, cũng như khuyến khích tăng tỷ lệ giá trị nội địa, phát triển công nghiệp hỗ trợ ngành sản xuất ôtô.

Minh Đức