-Tài liệu Tiếng Việt 1 Công nghệ Giáo dục đã trải qua thời gian thực nghiệm gần 40 năm; trong năm học này đang được 43% học sinh lớp 1 cả nước sử dụng, nhưng vẫn chưa phải là bộ sách giáo khoa chính thức. Trong những năm tới đây khi ngành giáo dục áp dụng chương trình phổ thông mới, tài liệu dạy học này sẽ có "số phận" như thế nào.  

Ông Nguyễn Đức Hữu, Phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục Tiểu học đã có cuộc trao đổi với VietNamNet về một số vấn đề xung quanh tài liệu dạy học này.

{keywords}
Ông Nguyễn Đức Hữu (Phó Vụ trưởng phụ trách Vụ Giáo dục Tiểu học) cho biết, khi sử dụng tài liệu Tiếng Việt 1 Công nghệ Giáo dục, học sinh vùng dân tộc thiểu số có thể học âm, học chữ dễ dàng. Ảnh: Thúy Nga

"Tài liệu Tiếng Việt 1 Công nghệ Giáo dục giúp học sinh phát huy được khả năng của mỗi cá nhân"

- Trong thời gian qua, dư luận xã hội có những ý kiến khác nhau về Tài liệu Tiếng Việt lớp 1 Công nghệ giáo dục (TV1-CNGD). Ông cho biết quan điểm của Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) về vấn đề này như thế nào?

TS. Nguyễn Đức Hữu: Tài liệu TV1- CNGD là kết quả nghiên cứu từ năm 1978 của một số nhà khoa học, đứng đầu là GS.TSKH Hồ Ngọc Đại và từng bước được chỉnh sửa, bổ sung, hoàn thiện theo các kết quả nghiên cứu từ các Đề tài khoa học và được áp dụng vào dạy học bắt đầu ở trường Thực nghiệm , Giảng Võ, Hà Nội và sau đó triển khai áp dụng tại một số cơ sở giáo dục tiểu học ở một số địa phương khác.

Đến năm học 2002-2003, khi cả nước triển khai Chương trình GDPT mới (gọi tắt là Chương trình 2000) thì tất cả các trường tiểu học, các địa phương không sử dụng Tài liệu TV1-CNGD nữa. Tuy nhiên, sau một số năm, GS.TSKH Hồ Ngọc Đại xin phép Bộ GDĐT được triển khai thí điểm ở một số trường tiểu học thuộc các tỉnh miền núi phía Bắc, nơi có nhiều học sinh dân tộc thiểu số.

Từ kết quả thử nghiệm ở một số địa phương, Tài liệu TV1-CNGD ở đã được Bộ GD-ĐT đã đồng ý và coi đây như một phương án để các địa phương lựa chọn triển khai dạy học môn Tiếng Việt lớp 1 trên tinh thần tự nguyện của các nhà trường, nhất là ở những vùng khó khăn, vùng có nhiều học sinh dân tộc thiểu số từ năm học 2009-2010. Đến nay, đã có 48 tỉnh, thành phố triển khai dạy học theo Tài liệu này. Tuy nhiên, không phải 100% các trường tiểu học ở các địa phương này đều triển khai mà nhiều nơi chỉ một số ít trường.

- Theo ông, Tài liệu TV1-CNGD có những ưu điểm và hạn chế gì?

TS. Nguyễn Đức Hữu: Về ưu điểm, cách tiếp cận của Tài liệu TV1-CNGD đi từ âm đến chữ, giúp học sinh hình thành tư duy và phương pháp học tập tích cực. Kênh hình và kênh chữ trong Tài liệu khá sinh động, gây được hứng thú học tập cho học sinh. Cách xây dựng các bài học đi từ khái quát đến cụ thể nhằm giúp học sinh phát huy được khả năng của mỗi cá nhân.

Dạy học theo Tài liệu TV1-CNGD về cơ bản đã hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng Việt (đọc, viết, nghe nói) đáp ứng mục tiêu môn Tiếng Việt lớp 1 quy định trong Chương trình giáo dục phổ thông hiện hành.

Tổ chức dạy học theo Tài liệu TV1-CNGD, học sinh được tham gia vào các hoạt động trong quá trình học tập để tạo ra sản phẩm cho chính mình, được củng cố kiến thức thông qua hệ thống việc làm (thực hành) để rèn kĩ năng đọc, nghe và viết đúng chính tả.

Ngoài những ưu điểm trên, Tài liệu TV1-CNGD còn một số hạn chế như sử dụng một số ngữ liệu chưa phù hợp; một số từ ngữ chưa thông dụng, khó hiểu, không gần gũi với học sinh lớp 1, nhất là những từ Hán-Việt, từ địa phương,… Một số bài tập đọc, bài viết chính tả nội dung còn dài và khó đối với học sinh.

Tài liệu TV1-CNGD chưa quan tâm nhiều đến việc hình thành năng lực đọc hiểu cho học sinh. Ngoài ra, Tài liệu TV1-CNGD được cấu trúc theo hệ thống khá chặt chẽ nên sẽ có khó khăn nhất định nếu học sinh không đảm bảo tính chuyên cần, không tham gia đầy đủ, liên tục các bài học.

Tuy nhiên, những hạn chế trên của Tài liệu TV1-CNGD về cơ bản đã được khắc phục, chỉnh sửa theo kết luận và kiến nghị sau 2 vòng thẩm định của Hội đồng thẩm định quốc gia (năm 2017 và năm 2018).

- Sau khi có kiến nghị của cử tri, Bộ GDĐT đã có giải pháp gì trong việc triển khai Tài liệu TV1-CNGD?

TS. Nguyễn Đức Hữu: Cuối năm 2016, tiếp thu ý kiến của Đại biểu Quốc hội trong kì họp thứ 2, Quốc hội khóa XIV, Bộ trưởng Bộ GDĐT đã giao cho Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam (KHGD) nghiên cứu, khảo sát, đánh giá chất lượng, hiệu quả triển khai Tài liệu TV1-CNGD và đề xuất các giải pháp chỉ đạo do GS.TS Trần Công Phong - Viện trưởng Viện KHGD Việt Nam chủ trì.

Căn cứ vào kết quả nghiên cứu, khảo sát, Viện KHGD Việt Nam đã đánh giá việc triển khai Tài liệu Tiếng Việt 1-CNGD ở các địa phương, mặc dù còn có những hạn chế nhất định, song đã đạt được hiệu quả khả quan thông qua kết quả học tập của học sinh, năng lực chuyên môn của giáo viên và nhu cầu của các nhà trường. Trong báo cáo, Viện KHGD Việt Nam đề nghị Bộ GDĐT tổ chức Hội đồng thẩm định Tài liệu TV1-CNGD theo quy định và đề nghị các tác giả tiếp tục chỉnh sửa, bổ sung, hoàn thiện Tài liệu để đáp ứng nhu cầu của các địa phương.

Căn cứ kết quả khảo sát, đánh giá và đề xuất của Viện KHGSVN, trong năm 2017 và 2018, nhằm tiếp tục nâng cao chất lượng dạy học Tiếng Việt lớp 1, cùng với việc rà soát, tinh giảm các nội dung chưa phù hợp với học sinh trong sách giáo khoa theo Chương trình GDPT hiện hành, Bộ GDĐT đã tổ chức Hội đồng thẩm định quốc gia Tài liệu TV1-CNGD.

Sau 2 vòng thẩm định, Hội đồng thẩm định đã đánh giá: Tài liệu TV1-CNGD, cơ bản đảm bảo các yêu cầu về mục tiêu, chuẩn kiến thức kĩ năng của môn Tiếng Việt lớp 1 trong Chương trình GDPT cấp Tiểu học theo Quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 05 tháng 5 năm 2006 của Bộ GDĐT.

Tài liệu TV1-CNGD đã được các tác giả tiếp thu, chỉnh sửa theo kết luận của Hội đồng thẩm định quốc gia.

Căn cứ ý kiến kết luận và đề xuất của Hội đồng thẩm định Tài liệu TV1-CNGD, Bộ GDĐT hướng dẫn các sở GDĐT triển khai Tài liệu TV1-CNGD phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương trên nguyên tắc tự nguyện của nhà trường trong năm học 2017-2018 và năm học 2018-2019 ở những nơi đang triển khai và không mở rộng để giữ ổn định cho đến khi thực hiện Chương trình GDPT mới.

Như vậy, Tài liệu TV1-CNGD là một trong những phương án để các địa phương lựa chọn triển khai dạy học môn Tiếng Việt lớp 1 trong Chương trình giáo dục phổ thông hiện hành, nhất là với học sinh vùng khó khăn, vùng dân tộc thiểu số.

- Tài liệu TV1-CNGD đã được thử nghiệm gần 40 năm ở nhiều địa phương nhưng vẫn chưa là sách giáo khoa chính thức để giảng dạy trong trường tiểu học. Vậy khi chương trình giáo dục phổ thông mới được ban hành, Tài liệu TV1-CNGD có được triển khai nữa không ?

TS. Nguyễn Đức Hữu: Từ các kết quả nghiên cứu khoa học và triển khai thực tế, mặc dù còn một số hạn chế, song về cơ bản, Tài liệu TV1-CNGD đã đáp ứng được các yêu cầu dạy học môn Tiếng Việt và là một trong những phương án để các địa phương lựa chọn trong việc dạy học môn Tiếng Việt lớp 1, nhất là với học sinh vùng khó, vùng dân tộc thiểu số.

Đến nay, Tài liệu TV1-CNGD đã trải qua một thời gian thực nghiệm gần 40 năm và được áp dụng ở một số địa phương, Bộ GD-ĐT đã tiến hành khảo sát, nghiên cứu, đánh giá và tổ chức thẩm định, hoàn thiện để triển khai ở những địa phương có đủ điều kiện và tự nguyện tham gia, không mở rộng thêm để giữ ổn định cho đến khi thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mới.

Tuy nhiên, tài liệu này vẫn chưa được đưa vào dạy học như một bộ sách giáo khoa chính thức.

Theo Luật Giáo dục hiện hành quy định: “Bộ trưởng Bộ GD-ĐT ban hành chương trình giáo dục phổ thông; duyệt và quyết định chọn sách giáo khoa để sử dụng chính thức, ổn định, thống nhất trong giảng dạy, học tập ở các cơ sở giáo dục phổ thông,... trên cơ sở thẩm định của Hội đồng quốc gia thẩm định chương trình giáo dục phổ thông và sách giáo khoa”. Do vậy, cùng với bộ sách giáo khoa hiện hành, Tài liệu TV1-CNGD được Bộ GD-ĐT đồng ý và coi đây là một phương án để các địa phương lựa chọn triển khai phù hợp trên tinh thần tự nguyện của các nhà trường.

Hơn nữa, chương trình giáo dục phổ thông mới sắp được ban hành và triển khai bắt đầu từ lớp 1, Bộ GD-ĐT hướng dẫn các địa phương đã và đang sử dụng Tài liệu TV1-CNGD tiếp tục triển khai nhưng không mở rộng để giữ ổn định cho đến khi thay sách giáo khoa mới.

Khi chương trình giáo dục phổ thông mới được ban hành, với chủ trương “một chương trình nhiều sách giáo khoa”, tất cả các tài liệu dạy học được đưa vào nhà trường với tư cách là sách giáo khoa đều phải được Hội đồng quốc gia thẩm định. Căn cứ vào kết luận và đề xuất của Hội đồng thẩm định, Bộ trưởng Bộ GDĐT sẽ phê duyệt danh mục sách giáo khoa (theo chương trình giáo dục phổ thông mới) được phép sử dụng trong các cơ sở giáo dục. Trên cơ sở đó, các cơ sở giáo dục sẽ được quyền lựa chọn sách giáo khoa nào phù hợp nhất để triển khai.

Xin cảm ơn ông!

Hạ Anh - Thúy Nga

Thứ trưởng Giáo dục khẳng định sức sống sách Tiếng Việt 1 của GS Hồ Ngọc Đại

Thứ trưởng Giáo dục khẳng định sức sống sách Tiếng Việt 1 của GS Hồ Ngọc Đại

Trao đổi với báo chí sáng 11/9, Thứ trưởng  Nguyễn Hữu Độ cho hay tài liệu Tiếng Việt 1 Công nghệ Giáo dục vẫn ổn định ở 48 tỉnh, thành với 771.588 học sinh của 8.000 trường tiểu học.

Mấy điều trao đổi về phát biểu của GS Hồ Ngọc Đại trong buổi thuyết trình

Mấy điều trao đổi về phát biểu của GS Hồ Ngọc Đại trong buổi thuyết trình

“Lĩnh vực giáo dục nói riêng và xã hội nói chung chỉ phát triển khi sự khác biệt được tôn trọng”, PGS Ngôn ngữ Bùi Mạnh Hùng cho biết khi trao đổi với GS Hồ Ngọc Đại sau “cơn bão sách tiếng Việt lớp 1 Công nghệ Giáo dục”.

GS Hồ Ngọc Đại: "Giáo dục hiện đại không noi gương ai cả"

GS Hồ Ngọc Đại: "Giáo dục hiện đại không noi gương ai cả"

GS Đại nói rằng tài liệu Tiếng Việt lớp 1 của Công nghệ giáo dục là điều an ủi ông lớn nhất, ông để tên mình là để chịu trách nhiệm.  

Đọc chữ kiểu "ô vuông, tam giác": Sao cứ ầm ĩ?

Đọc chữ kiểu "ô vuông, tam giác": Sao cứ ầm ĩ?

Về việc dạy trẻ em học bằng phương pháp đọc chữ “ô vuông tam giác”, nhiều người cho rằng đây là cách dạy lạ lùng, chữ viết sắp chuyển từ “a bê xê” sang hình vuông, tam giác.

Tiếng Việt Công nghệ Giáo dục: Vì sao 3 chữ c/k/q đều đọc là "cờ"?

Tiếng Việt Công nghệ Giáo dục: Vì sao 3 chữ c/k/q đều đọc là "cờ"?

Với môn Tiếng Việt 1 CNGD, học sinh sẽ học cấu trúc ngữ âm của tiếng, không phải đi từ chữ rồi trở lại âm như chương trình hiện hành mà đi từ âm đến chữ, tức là đi từ trừu tượng đến cụ thể.