Bên cạnh bất cập của chính sách và các tiêu chuẩn chức danh đã lạc hậu, các Hội đồng chức danh Giáo sư (HĐCDGS) chịu phần trách nhiệm chính về tinh trạng yếu kém của Khoa học Việt Nam (KHVN) cùng các chức danh Giáo sư (GS), Phó giáo sư (PGS), Tiến sĩ (TS).

Cải cách nâng chuẩn từ chính các Hội đồng chức danh Giáo sư

Tiêu chuẩn bổ nhiệm giáo sư và phó giáo sư dự kiến sẽ có nhiều thay đổi theo chiều hướng nâng cao hơn quy định cũ. Ảnh: Lê Văn.

Kinh nghiệm từ Quỹ Nafosted

Cải cách tiêu chuẩn các chức danh ở thời điểm này là quá muộn so với bước tiến mà Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) đã thực hiện với sự hình thành của Quỹ phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc gia (thường gọi theo tên tắt tiếng Anh là Nafosted) từ năm 2009.

Các chủ trì để tài Nghiên cứu Cơ bản trong lĩnh vực Khoa học Tự nhiên và Kỹ thuật phải đạt yêu cầu tối thiểu có công bố quốc tế ISI (cao hơn chuẩn Scopus) trong 5 năm gần nhất, trước khi đề tài được xem xét.

Các đề tài trong 2 - 3 năm phải công bố ít nhất 2 bài báo quốc tế ISI, trong đó ít nhất 1 bài chủ trì phải là tác giả chính (tác giả liên hệ hay tác giả đứng tên đầu).

Ngay từ đợt xét đầu tiên 80% các chủ trì đề tài Nghiên cứu Cơ bản cũ trong ngành Cơ học gồm phần nhiều là các GS chức sắc gọi là đầu ngành đã không đạt tiêu chuẩn đầu vào về công bố quốc tế, trong khi hơn 50% chủ trì được duyệt là các TS trẻ và trung tuổi lần đầu tiên có được cơ hội chủ trì đề tài mà theo cơ chế cũ họ không với tới được.

Trái ngược với những dèm pha ban đầu là Chương trình sẽ thất bại, không lấy đâu ra người chủ trì các đề tài, và các đề tài không thể được hoàn thành, chương trình Nghiên cứu Cơ bản của Bộ KH&CN đã và đang thành công vượt mọi mong đợi và đang là điểm sáng vững chắc trong khoa học nước nhà.

Mặc dù có những chủ trì phải rút lui đề tài, có những chủ trì không hoàn thành nhiệm vụ phải hoàn lại một phần kinh phí (điều chưa từng xảy ra trước đây), nhiều chủ trì phải xin gia hạn, phần đông các đề tài được lựa chọn khắt khe đã hoàn thành nhiệm vụ. Số các đề tài mới và số công bố quốc tế tăng nhanh hàng năm, cuốn hút được nhiều TS trẻ, trong đó có số đông các bạn mới được đào tạo ở nước ngoài – cả những người phân vân giữa ở lại nước ngòai hay về nước – tham gia tích cực.

Có những nhà khoa học trung và lớn tuổi đã phấn đấu trở lại công bố quốc tế. Trong ngành Cơ học, các GS Nguyễn Văn Khang và Phạm Lợi Vũ, dù đã trên 70 tuổi, đã chủ trì thành công các đề tài với công bố quốc tế. Không có ngoại lệ ở đây.

Có những chức sắc cấp cao thuộc chính các HĐCDGS Ngành hiện nay đã xin và bị từ chối, không chỉ một lần, đề tài Nghiên cứu Cơ bản vì không đạt tiêu chuẩn tối thiểu về công bố quốc tế.

Hiện nay Quỹ Nafosted và các Hội đồng Ngành Nghiên cứu Cơ bản đang có chính sách cụ thể khuyến khích công bố quốc tế chất lượng cao hơn mức ISI: trên các tạp chí SCI có trong các danh sách hàng đầu Q1 của ISI và Scopus.

Đòi hỏi cao hơn với thành viên Hội đồng chức danh Giáo sư

Khác với cải cách toàn diện Chương trình Nghiên cứu Cơ bản của Bộ KH&CN, Bản Dự thảo tiêu chuẩn chức danh GS, PGS có một khiếm khuyết cơ bản là trong khi đòi hỏi các ứng viên phải có công bố quốc tế ISI và Scopus, thì lại lờ đi đòi hỏi như vậy đối với các thành viên các HĐCDGS – vốn đóng vai trò thẩm định và nắm khâu quyết định với thành công của cải cách.

Theo gương Chương trình Nghiên cứu Cơ bản, cần đòi hỏi tương tự về công bố quốc tế đối với các thành viên các HĐCDGS, thậm chí cần yêu cầu cao hơn, nhất là đối với các HĐCDGS Ngành (như đối với 8 HĐ Ngành của Chương trình Nghiên cứu Cơ bản trong lĩnh vực Khoa học Tự nhiên và Kỹ thuật).

Trong Bản dự thảo có một điểm mới là yêu cầu các thành viên các HĐCDGS Ngành phải có chức danh GS – lại là một cản trở cho tiến trình cải cách. Bởi không ít các GS và thành viên các HĐCDGS Ngành hiện nay mang tư duy cũ và yếu kém về chuyên môn, thậm chí không đạt tiêu chuẩn tác giả chính các bài báo quốc tế của chức danh PGS mới.

Ở điểm này thì lại cần giữ quy định cũ để có thể chọn được các HĐCDGS Ngành từ các GS và PGS xuất sắc nhất.

Các HĐCDGS Cơ sở cần mở rộng cho cả các TS có thành tích công bố quốc tế tốt, và mời thêm người bên ngoài cơ sở, nếu không đủ số GS, PGS đạt chuẩn công bố quốc tế.

 

Ở những ngành công bố quốc tế còn quá yếu, bước đầu danh sách ứng viên HĐCDGS Ngành có thể tạm mở rộng cả cho cả các GS chưa đạt chuẩn công bố quốc tế và cả các TS đạt chuẩn công bố quốc tế, và mời thêm chuyên gia từ ngành gần gũi.

Cần một website mở

Website của HĐCDGS Nhà nước cần mở để các GS, PGS, TS các ngành đạt tiêu chuẩn công bố quốc tế của chức danh PGS từ các cơ sở nghiên cứu và đào tạo đăng ký Lý lịch khoa học vào các ngành cụ thể theo mẫu quy định, và được cập nhập hàng năm (các thông tin công bố quốc tế đều có thể kiểm tra khách quan được).

Do tính chất đa ngành hiện nay, nhiều đồng nghiệp có thể đồng thời đăng ký ở các ngành gần và giao nhau. Ví dụ nhiều chuyên gia các ngành Cơ khí, Xây dựng, Thủy lợi, Giao thông có thể đăng ký đồng thời vào cả ngành Cơ học, vốn đại diện cho phần đông trong số họ trong Chương trình NCCB hiện nay.

Cải cách nâng chuẩn từ chính các Hội đồng chức danh Giáo sư

Ảnh: Văn Chung

Thông tin đó sẽ giúp HĐCDGS Nhà nước nắm được tình hình trong từng ngành và đặt ra các tiêu chí cụ thể sát thực tế hơn cho từng ngành. Ví dụ, đối với các ngành Toán, Lý, Cơ, Tin, Hóa, Sinh… cần lấy tiêu chuẩn quốc tế ISI (cao hơn Scopus), thậm chí cao hơn nữa là SCI (Trung Quốc lấy chuẩn này).

Dựa vào đây Bộ GD-ĐT và HĐCDGS Nhà nước tiến hành thăm dò online lấy ý kiến các nhà khoa học đạt chuẩn quốc tế các ngành để chọn ra các HĐCDGS Ngành có năng lực và xứng đáng nhất từ các GS, PGS. Không chỉ tinh phiếu tín nhiệm, mà cả phiếu phản đối nữa, giúp loại bỏ những nhân vật tiêu cực cộm cán trong các ngành.

Xem xét bổ nhiệm lại sau 5 năm 

Các thành viên các Hội đồng Ngành của Chương trình Nghiên cứu Cơ bản còn bị giới hạn số nhiệm kỳ liên tiếp: các thành viên, với không quá 6 - 8 năm liên tục, Chủ tịch và Phó chủ tịch – không quá 4 - 6 năm.

Trong giai đoạn quá độ hiện nay, nhiệm kỳ các HĐCDGS Ngành cũng nên được rút ngắn xuống 2 - 3 năm, giúp các HĐ này có thể được đổi mới liên tục cùng với đà tiến bộ của Khoa học Việt Nam.

Tiêu chuẩn tác giả chính 2 bài báo quốc tế đối với các ứng viên chức danh và thành viên HĐCDGS cần là của 5 năm gần nhất, chứ không phải là của thời xa xôi, khi đương sự còn được đào tạo ở nước ngoài, và đã xa rời khoa học chuẩn mực nhiều năm qua.

Với chức danh GS cần yêu cầu một nửa số điểm công trình phải là từ công bố quốc tế - điều đó là không khó với những ai đã qua ngưỡng tác giả chính các bài báo quốc tế nội lực. Tiêu chuẩn đó cũng sẽ làm khó các “GS chức sắc” xin/ mua để ghé tên vào một vài bài báo quốc tế của đồng nghiệp dưới quyền.

Các GS, PGS đã đạt chuẩn cần được xem xét bổ nhiệm lại sau 5 năm – trong thời gian đó đương sự vẫn phải tham gia nghiên cứu và đào tạo, và là tác giả chính các bài báo quốc tế.

Chúng ta cần có các Chức danh, Hội đồng chất lượng được lựa chọn minh bạch. Các HĐCDGS phải có trách nhiệm chọn được các nhà khoa học đầu tàu xứng đáng ở thời điểm năng lực đỉnh cao của họ để họ kéo con tàu Khoa học Việt Nam đi lên, chứ không phải khi họ đã ở tuổi xế chiều và đã qua thời kỳ đó.

Các Hội đồng cũng không thể là nơi cửa quyền, xin cho, và phân phát hư danh.

Chúng ta không thiếu các tài năng trẻ, những người tâm huyết với khoa học nước nhà, và họ cần được cởi trói, mà sợi giây trói ở đây chính là cơ chế và các HĐCDGS kiểu cũ.

Việc những nhà khoa học đầu tàu nổi bật về nghiên cứu cơ bản và đào tạo theo chuẩn mực quốc tế, với nhiều đóng góp cho tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế của khoa học nước nhà những năm qua như Nguyễn Bá Ân, Nguyễn Ngọc Châu, Nguyễn Xuân Hùng … đã không được/ bị từ chối chức danh GS cho thấy những bất cập của khoa học Việt Nam.

Cải cách các HĐCDGS là một vấn đề cấp bách hiện nay của khoa học Việt Nam. Thành công của Chương trình NCCB của Quỹ Nafosted và Bộ KH&CN những năm qua cho phép chúng ta hy vọng vào bước tiến như vậy trong cải cách các chức danh GS, PGS, và các HĐCDGS.

Không làm được điều đó, các nhà lãnh đạo, các nhà quản lý, và cả cộng đồng khoa học của chúng ta sẽ cùng phải chịu trách nhiệm to lớn trước nhân dân.

Phạm Đức Chính(Nghiên cứu viên cao cấp Viện Cơ học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam)