- Năm 1992 bố tôi có mua một mảnh đất của anh trai bố tôi. Vì là anh em tin tưởng nên không có giấy tờ gì cả mà chỉ có giấy viết tay với nội dung “Ông A bán cho ông  B mảnh đất, ông A đã nhận tiền còn thiếu 2 triệu sẽ trả sau”. Sau đó bố tôi đã trả số tiền còn lại nhưng cũng không có giấy tờ gì.

TIN BÀI KHÁC

Đến ngày 15/10/1993 khi luật đất đai ra đời, gia đình tôi đã được cấp GCNQSDĐ (sổ đỏ) cùng với các gia đình khác. Từ đó đến nay gia đình tôi cũng chấp hành đầy đủ nghĩa vụ thuế với nhà nước. Bố tôi cũng đã từng mang GCNQSDĐ đi thế chấp ngân hàng để vay tiền đã được ngân hàng cho vay. Mặt khác gia đình tôi cũng đã từng bán một phần đất đó cho ông C (chủ khác) và đã hoàn tất việc tách số đỏ cho ông C.

Thời gian gần đây vì có việc nên gia đình tôi lại bán thêm một phần đất nữa. Gia đình tôi đã nhận đủ tiền và đang tiến hành thủ tục tách số đỏ. Nhưng ngày 1/11/2015, ông A (bác tôi) lại quay lại (bác tôi đi làm ăn xa từ sau khi bán cho nhà tôi mảnh đất) đòi mảnh đất với lý do ngày xưa bác tôi chỉ nhờ bố tôi canh tác và bố tôi đã tự ý làm sổ đỏ tên mình. Nay bác tôi đã làm đơn kiện lên UBND xã.

Vậy luật sư cho tôi hỏi theo luật trong trường hợp này nhà tôi có phải trả lại mảnh đất đó cho bác tôi không? Hiện giờ nhà tôi vẫn còn giữ giấy tờ mua bán viết tay giữa bố tôi và bác tôi có chữ ký của hai người và có chữ ký của mấy anh em bố tôi (nhưng giấy đó lại không có chữ ký của vợ bác tôi). Kính mong luật sư trả lời giúp.

Bị kiện ra tòa vì tin anh trai mua đất chỉ với giấy viết tay
Nay trở về, bác tôi đòi kiện bố dù đã có giấy tờ mua bán (Ảnh minh họa)

Thứ nhất, theo thông tin bạn cung cấp thì mảnh đất trên hiện đã mang tên quyền sử dụng đất của cha bạn, được nhà nước cấp, công nhận quyền sử dụng đất đúng trình tự, thẩm quyền. Nên cha bạn sẽ được nhà nước đảm bảo về quyền của người sử dụng đất theo quy định tại điều 166 Luật đất đai 2013:

Điều 166. Quyền chung của người sử dụng đất

“1. Được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

2. Hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất.

 

3. Hưởng các lợi ích do công trình của Nhà nước phục vụ việc bảo vệ, cải tạo đất nông nghiệp.

4. Được Nhà nước hướng dẫn và giúp đỡ trong việc cải tạo, bồi bổ đất nông nghiệp.

5. Được Nhà nước bảo hộ khi người khác xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp về đất đai của mình.

6. Được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất theo quy định của Luật này.

7. Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về những hành vi vi phạm quyền sử dụng đất hợp pháp của mình và những hành vi khác vi phạm pháp luật về đất đai.”

Thứ hai, về thời hiệu khởi kiện: Theo quy định tại điểm a, điểm b khoản 3 điều 23 của Nghị quyết 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ nhất “Những quy định chung” của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự thì được hiểu như sau:

- Đối với tranh chấp về quyền sở hữu tài sản, về đòi lại tài sản, đòi lại quyền sử dụng đất do người khác quản lý, chiếm hữu thông qua giao dịch dân sự thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện. Tức là không bị hạn chế thời hạn khởi kiện.

- Đối với các tranh chấp khác (không thuộc loại tranh chấp nêu trên) thì thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự là hai năm, kể từ ngày cá nhân, cơ quan, tổ chức biết được quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.

Theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, người kiện đòi tài sản phải đưa ra chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đòi tài sản của mình là có căn cứ và hợp pháp.

Như vậy, theo quy định trên thì trường hợp này không áp dụng thời hiệu khởi kiện, nên bác bạn vẫn có thể khởi kiện. Tuy nhiên, việc cha bạn có phải trả lại thửa đất hay không phụ thuộc vào những căn cứ mà nguyên đơn (bác bạn) đưa ra có đủ cơ sở chứng minh họ là chủ sử dụng hợp pháp tài sản mà họ đang kiện đòi hay không. Tòa án sẽ tiến hành hòa giải và bản án của Tòa án dựa trên căn cứ chứng minh giữa 2 bên.

Tư vấn bởi Luật sư Phạm Thị Bích Hảo, Công ty luật TNHH Đức An, Thanh Xuân, Hà Nội.

Bạn đọc muốn gửi các câu hỏi thắc mắc về các vấn đề pháp luật, xin gửi về địa chỉ banbandoc@vietnamnet.vn (Xin ghi rõ địa chỉ, số điện thoại để chúng tôi tiện liên hệ)

Ban Bạn đọc