- Năm 2010 chúng tôi kết hôn, bố mẹ vợ có cho hai đứa một chiếc xe ô tô trị giá 3 tỷ đồng làm phương tiện đi lại, đứng tên vợ tôi. Bố mẹ tôi cho một căn nhà chung cư, định giá 4 tỷ đồng, đứng tên cả hai vợ chồng trên giấy tờ. Nay chúng tôi ly hôn thì chiếc ô tô đó có được xác định làm tài sản chung để chia không? Nếu vợ tôi không đồng ý chia ô tô thì tôi có được giữ căn nhà hai đứa đang ở không?

TIN BÀI KHÁC

Mới sinh con một tháng chồng đã đòi ly hôn
Chồng chết, vợ đã ly hôn, tôi có thể đòi lại tiền nợ của mình?
Đất cho bố mẹ chồng, đến khi ly hôn con dâu muốn đòi lại
Có con chung nhưng không đăng ký, ly hôn như nào?
Chồng Nam vợ Bắc: thủ tục ly hôn có rắc rối?
ly hôn, vợ chồng, tư vấn pháp luật
Nếu ly hôn thì mỗi người đều được quyền giữ tài sản của mình? (Ảnh minh họa)

Luật sư tư vấn: 

Theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, khi ly hôn nếu 2 bên không thỏa thuận được thì tài sản chung của vợ chồng sẽ được chia đôi nhưng có tính tới một số yếu tố như hoàn cảnh gia đình vợ, chồng, công sức đóng góp… Theo đó, để biết bạn có được chia tài sản không thì cần phải xác định xem tài sản (ngôi nhà và chiếc ôtô) có phải là tài sản chung của 2 vợ chồng bạn không.

Tài sản chung của vợ chồng gồm:

Tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

Tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung.

 

Tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Đối với những tài sản chung mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng thì giấy chứng nhận phải ghi tên cả 2 vợ chồng, trừ trường hợp có thỏa thuậnn khác. Nếu chỉ ghi tên 1 trong 2 bên mà có tranh chấp xảy ra thì sẽ được xử lý như sau: Nếu không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

Thứ nhất: Về tài sản là chiếc ô tô đứng tên vợ bạn.

Căn cứ vào theo quy định tại Điều 43 Luật hôn nhân và gia đình 2014 có quy định về tài sản riêng của vợ chồng như sau:

“Điều 43. Tài sản riêng của vợ, chồng

Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.”

Như vậy đối với trường hợp của bạn, việc vợ bạn được bố mẹ tặng cho chiếc xe và đứng tên riêng chiếc xe đó là quan hệ tặng cho tài sản được pháp luật công nhận. Mặc dù chiếc xe là tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân nhưng trên các giấy tờ đều thể hiện đó là tài sản riêng của vợ bạn do nguồn tặng cho riêng có được trong thời kỳ hôn nhân. Trừ trường hợp tặng vợ chồng bạn cùng thỏa thuận đó là tài sản chung thì mới được thừa nhận là tài sản chung của vợ chồng. Như vậy nếu ly hôn, tài sản riêng của vợ thì sẽ không được đem ra chia, nếu là tài sản chung của vợ chồng thì về nguyên tắc chia đôi. 

Thứ hai: Về tài sản chung vợ chồng

Căn nhà bố mẹ bạn cho đứng tên hai vợ chồng sẽ được chia đôi theo quy định tại điều 59 Luật Hôn nhân gia đình 2014 có tính đến hoàn cảnh gia đình của vợ chồng, công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập, duy trì, phát triển khối tài sản chung, bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất kinh doanh, lỗi của mỗi bên trong vi phạm nghĩa vụ của vợ, chồng.

Tư vấn bởi Luật sư Phạm Thị Bích Hảo, Công ty luật TNHH Đức An, Thanh Xuân, Hà Nội.

Bạn đọc muốn gửi các câu hỏi thắc mắc về các vấn đề pháp luật, xin gửi về địa chỉ banbandoc@vietnamnet.vn (Xin ghi rõ địa chỉ, số điện thoại để chúng tôi tiện liên hệ)

Ban Bạn đọc