Luật sư tư vấn:

Theo Điều 34 Bộ luật dân sự 2015 thì Điều 34. Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín

1. Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ.

2. Cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án bác bỏ thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình.

Việc bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín có thể được thực hiện sau khi cá nhân chết theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc con thành niên; trường hợp không có những người này thì theo yêu cầu của cha, mẹ của người đã chết, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác.

Khởi kiện khi bị bôi nhọ trên Facebook
Ảnh minh họa

3. Thông tin ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được đăng tải trên phương tiện thông tin đại chúng nào thì phải được gỡ bỏ, cải chính bằng chính phương tiện thông tin đại chúng đó. Nếu thông tin này được cơ quan, tổ chức, cá nhân cất giữ thì phải được hủy bỏ.

4. Trường hợp không xác định được người đã đưa tin ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình thì người bị đưa tin có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố thông tin đó là không đúng.

5. Cá nhân bị thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín thì ngoài quyền yêu cầu bác bỏ thông tin đó còn có quyền yêu cầu người đưa ra thông tin xin lỗi, cải chính công khai và bồi thường thiệt hại.

Do đó trường hợp bị vu khống, bôi nhọ trên Facebook của bạn được pháp luật điều chỉnh. Tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng mà người đăng tin vu khống, bôi nhọ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của bạn (tạm gọi là bạn A) có thể bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.

 

Theo Điểm a Khoản 1 Điều 101 Nghị định 15/2020/NĐ – CP, Điều 101. Vi phạm các quy định về trách nhiệm sử dụng dịch vụ mạng xã hội

1. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi lợi dụng mạng xã hội để thực hiện một trong các hành vi sau:

a) Cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân;

Theo quy định trên thì hành vi của A có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.

Về việc truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 155,156 Bộ luật hình sự 2015. 

Trong trường hợp này bạn phải làm đơn tố giác tội phạm tới cơ quan có thẩm quyền để được bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình theo quy định tại Điều 144 Bộ luật tố tụng hình sự 2015. 

Luật sư Phạm Thị Bích Hảo, Công ty luật TNHH Đức An, Thanh Xuân, Hà Nội.

Bạn đọc muốn gửi các câu hỏi thắc mắc về các vấn đề pháp luật, xin gửi về địa chỉ banbandoc@vietnamnet.vn (Xin ghi rõ địa chỉ, số điện thoại để chúng tôi tiện liên hệ)

Ban Bạn đọc

Trách nhiệm của người bán khi người tiêu dùng bị ngộ độc thực phẩm

Trách nhiệm của người bán khi người tiêu dùng bị ngộ độc thực phẩm

Xin hỏi đối với trường hợp người tiêu dùng bị ngộ độc thực phẩm, người bán phải chịu những vấn đề gì với pháp luật. Nếu gia đình tôi có người bị ngộ độc thì ai sẽ là người chi trả tiền viện phí?