- Em và người yêu đều là công nhân hiện đang làm việc tại khu công nghiệp Hải Phòng. Chúng em yêu nhau được 2 năm và vừa rồi có dọn đến sống chung cho tiết kiệm chi phí, dự định đầu năm mới sẽ kết hôn.

Hôm thứ 7 tuần trước, khoảng 22 giờ đêm, khi cả khu trọ đang ngủ thì bác tổ trưởng phường cùng một số anh công an đến kiểm tra chứng minh thư, sổ đăng ký tạm trú, giấy tờ liên quan. Hai đứa đều cung cấp đầy đủ nhưng khi họ hỏi đến giấy đăng ký kết hôn thì bọn em không có. 

Công an phường lập biên bản xử phạt hẹn chúng em lên giải quyết. Xin hỏi luật sư việc hai đứa em không có giấy đăng ký kết hôn mà ở chung với nhau thì có vi phạm pháp luật không? Các anh công an làm như vậy có đúng không? Cảm ơn luật sư.

Chưa đăng ký kết hôn, ở chung có bị xử phạt?
Chúng tôi bị xử phạt vì chưa đăng ký kết hôn đã sống chung thì có đúng không? (Ảnh minh họa)

Theo quy định tại Điều 3 Luật Cư trú về quyền tự do cư trú của công dân thì “Công dân có quyền tự do cư trú theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Quyền tự do cư trú của công dân chỉ bị hạn chế theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định”.

Quyền tự do cư trú của công dân được pháp luật bảo vệ. Cơ quan, tổ chức, cá nhân xâm phạm quyền tự do cư trú của công dân sẽ bị xử lý nghiêm minh. Để bảo đảm quyền cư trú của công dân được pháp luật bảo vệ cũng như ngăn ngừa các hành vi vi phạm liên quan đến cư trú, tại Điều 8 Luật Cư trú quy định các hành vi sau đây bị nghiêm cấm:

1. Cản trở công dân thực hiện quyền tự do cư trú.

2. Lạm dụng quy định về hộ khẩu để hạn chế quyền, lợi ích hợp pháp của công dân.

3. Nhận hối lộ, cửa quyền, hách dịch, sách nhiễu, gây phiền hà trong việc đăng ký, quản lý cư trú.

 

4. Thu, sử dụng lệ phí đăng ký cư trú trái với quy định của pháp luật.

5. Tự đặt ra thời gian, thủ tục, giấy tờ, biểu mẫu trái với quy định của pháp luật hoặc làm sai lệch sổ sách, hồ sơ về cư trú.

6. Cố ý cấp hoặc từ chối cấp giấy tờ về cư trú trái với quy định của pháp luật.

7. Lợi dụng quyền tự do cư trú để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

8. Thuê, cho thuê, mượn, cho mượn, làm giả, sửa chữa, làm sai lệch nội dung sổ hộ khẩu, sổ tạm trú, giấy tờ khác liên quan đến cư trú; sử dụng giấy tờ giả về cư trú; cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật về cư trú.

9. Tổ chức, kích động, xúi giục, lôi kéo, dụ dỗ, môi giới, giúp sức, cưỡng bức người khác vi phạm pháp luật về cư trú.

Người nào có một trong các hành vi nêu trên sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 11 Nghị định số 73/2010/NĐ-CP của Chính phủ ngày 12/7/2010 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh và trật tự, an toàn xã hội.

Ngoài các hành vi bị cấm nêu trên, pháp luật còn có một số quy định khác cũng liên quan đến việc cư trú nhưng thuộc lĩnh vực hôn nhân và gia đình là cấm người đang có vợ, có chồng mà chung sống với người khác như vợ chồng hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có vợ, có chồng. Hành vi này tùy theo tính chất, hậu quả gây ra mà có thể bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng.

Như vậy, căn cứ các quy định nêu trên, nếu hai bạn chưa đăng ký kết hôn mà chung sống cùng phòng, cùng nhà với nhau mà không vi phạm một trong các quy định nêu và chấp hành đầy đủ các quy định về cư trú thì không bị coi là vi phạm pháp luật. Mặc dù, việc chung sống này mặc dù không được khuyến khích nhưng cũng không có quy định nào hạn chế. Việc Công an phường lập biên bản xử phạt hai bạn với lý do sống chung nhưng không có đăng ký kết hôn là chưa phù hợp với quy định của pháp luật.

Tư vấn bởi Luật sư Hoàng Tuấn Anh; Công ty Luật Themis; Mail: luatthemis@gmail.com; SĐT: 0986663459

Bạn đọc muốn gửi các câu hỏi thắc mắc về các vấn đề pháp luật, xin gửi về địa chỉ banbandoc@vietnamnet.vn (Xin ghi rõ địa chỉ, số điện thoại để chúng tôi tiện liên hệ)

Ban Bạn đọc